Tag Archive | vi sinh vật

Virus HPV nguy hiểm gây ung thư bộ phận sinh dục cả nữ và nam

Khoảng 50% dân số thế giới nhiễm loại virus này tại một thời điểm trong đời nhưng phần lớn mọi người không biết mình mắc bệnh.

Loại virus lây dễ, lẩn tránh giỏi

Virus HPV (Human papillomavirus) là một nhóm lớn, đến nay các nhà khoa học đã tìm ra 210 chủng, trong đó có khoảng 40 chủng gây mụn cóc và ung thư vùng sinh dục cả nam và nữ.

TS Nguyễn Đăng Mạnh, Viện trưởng Viện Lâm sàng các bệnh truyền nhiễm, BV Trung ương quân đội 108 cho biết, virus HPV rất phổ biến ở cả nam và nữ. Khoảng 50% dân số thế giới nhiễm loại virus này tại một thời điểm trong đời nhưng đa phần không biểu hiện thành triệu chứng nên chính người bị nhiễm cũng không biết mình mang virus trong cơ thể.

{keywords}
Virus HPV rất dễ lây lan

Virus HPV lây nhiễm qua đường tình dục hay truyền qua nhau do quan hệ tình dục bằng miệng. Cũng có những trường hợp lây nhiễm HPV qua tiếp xúc gián tiếp như dùng chung dụng cụ sinh hoạt như cắt móc tay hay chung dụng cụ y tế chưa được tiệt trùng, vụ nhiều trẻ ở Hưng Yên cùng mắc sùi mào gà là một ví dụ nhưng chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ.

Theo TS Mạnh, thông thường khi virus xâm nhập vào, cơ thể sẽ sinh ra miễn dịch để chống đỡ nhưng chỉ trường hợp có miễn dịch đủ khoẻ mới có thể tiêu diệt hoàn toàn virus.

Các trường hợp còn lại, virus vẫn có thể lẩn tránh được trong cơ thể, khi gặp điều kiện thuận lợi là bùng trở lại, qua thời gian gây tổn thương tế bào hay đột biến tạo thành các khối u.

Một người có thể ủ virus HPV trong thời gian dài, đến khi có các triệu chứng của mụn cóc sinh dục mất vài tuần, vài tháng hay nhiều năm, với ung thư còn lâu hơn nữa.

Riêng với mụn cóc sinh dục, có thể có một hay nhiều nốt với nhiều kích thước và hình dạng khác nhau, phổ biến nhất là sùi mào gà do virus HPV6 gây ra và herpes sinh dục.

Để chữa trị mụn cóc sinh dục, bác sĩ có thể phẫu thuật cắt bỏ nốt sùi, triệt đốt bằng điện, lazer, bôi thuốc…

Chỉ tính riêng sùi mào gà, mỗi năm BV Da liễu Trung ương khám và điều trị cho khoảng 7.000 – 8.000 trường hợp. Sau mỗi năm, số ca mắc mới tăng thêm khoảng 10%. Độ tuổi mắc nhiều nhất từ 15-49.

{keywords}
Hình ảnh mụn cóc sinh dục do HPV

PGS.TS Lê Hữu Doanh, Phó giám đốc BV Da liễu Trung ương cho biết, việc chữa trị sùi mào gà cần nhiều lần và không thể diệt tận gốc virus HPV. Khi mắc sùi mào gà, đồng nghĩa virus ở trong cơ thể suốt đời, khi hệ miễn dịch suy yếu là phát triển trở lại.
Gây ung thư ở cả 2 giới

HPV có thể gây ung thư cổ tử cung và một số bệnh ung thư khác bao gồm ung thư âm hộ, âm đạo, dương vật và hậu môn. HPV còn có thể gây ung thư hầu họng nhưng ít phổ biến hơn.

Ung thư có thể xuất hiện sau khi bệnh nhân bị nhiễm HPV nhiều năm đến vài chục năm.

Với ung thư cổ tử cung ở nữ, chiếm 99 % trường hợp do virus HPV. Có 14 chủng HPV có nguy cơ cao gây ra loại ung thư này trong đó 2 type nguy cơ cao nhất là 16 và 18 (chiếm 70%), kế đó là các type 31, 33 và 45.

GS Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế, nguyên Giám đốc bệnh viện K cho biết, ung thư cổ tử cung tại Việt Nam đang xếp vị trí thứ 10 với gần 4.200 ca mắc mới, tuy nhiên tỉ lệ tử vong lên tới trên 50% với trên 2.400 ca.

So với nhiều loại ung thư khác, tiên lượng điều trị ung thư cổ tử cung khá tốt. Ở giai đoạn sớm, tỉ lệ điều trị thành công lên tới 93%, tuy nhiên ở giai đoạn trễ, tỉ lệ này chỉ còn dưới 15%.

Với nam giới, virus HPV16 và HPV18 có khả năng gây ra khoảng 50% trường hợp ung thư dương vật.

Khi bị ung thư dương vật, biện pháp điều trị chính là phẫu thuật và xạ trị. Càng phát hiện sớm, việc cắt bỏ càng ít, tỉ lệ điều trị khỏi càng cao. Ở những giai đoạn sau, bác sĩ sẽ phải cắt nới rộng phần có khối u, cắt một phần dương vật hoặc hoàn toàn kết hợp nạo vét hạch.

HPV là một loại virus nguy hiểm nhưng các xét nghiệm thông thường không thể phát hiện được loại virus này.

Các xét nghiệm phát hiện HPV hiện chỉ áp dụng với phụ nữ từ 21 tuổi trở lên trong sàng lọc ung thư cổ tử cung.

Trong xét nghiệm Pap, bác sĩ sẽ lấy tế bào cổ tử cung soi dưới kính hiển vi. Nếu nhiễm HPV sẽ thấy sự hiện diện của các tế bào rỗng.

Xét nghiệm HPV thường áp dụng cho phụ nữ từ 30 tuổi trở lên, có thể kết hợp cùng với xét nghiệm Pap. Xét nghiệm này giúp phát hiện các virus gây nhiễm trùng hoặc có thể dẫn tới ung thư.

Hiện nay chưa có thuốc đặc hiệu điều trị HPV, do đó cách đơn giản nhất là tiêm vắc xin ngừa HPV cho cả bé trai và gái độ (bé gái từ 9 tuổi, bé trai từ 12 tuổi) và kéo dài đến 21 tuổi với nam, 26 tuổi với nữ, kể cả đã có quan hệ tình dục. Việc tiêm vắc xin ngừa HPV có thể ngừa được những chủng HPV nguy hiểm như 6, 11, 16 và 18.

Để phát hiện sớm ung thư cổ tử cung, phụ nữ cần định kỳ khám phụ khoa, sàng lọc ung thư cổ tử cung.

Trong sinh hoạt tình dục, cần tuân thủ nguyên tắc một vợ một chồng để hạn chế lây nhiễm HPV. Sử dụng bao cao su chỉ giúp giảm nguy cơ lây nhiễm, không giúp bạn miễn nhiễm hoàn toàn với virus HPV do bao cao su không che phủ được toàn bộ bộ phận sinh dục.

Theo Vietnamnet: Read More

Công bố mới trên Tạp chí Nature cho thấy tê tê có thể đã truyền virus corona mới từ dơi sang người

Công bố mới trên Tạp chí Nature cho thấy các virus corona từ tê tê thuộc về hai dòng phụ của các virus corona liên quan đến SARS-CoV-2, trong đó một dòng có độ tương đồng cao với SARS-CoV-2 trong vùng liên kết với thụ thể. Vì thế, các tác giả cho rằng tê tê có thể đã truyền virus corona mới từ dơi sang người.

Về nguồn gốc của SARS-CoV-2 gây ra đại dịch COVID-19 vẫn còn nhiều tranh cãi và các nhà khoa học vẫn đang trên đường tìm kiếm các bằng chứng xác thực hơn. Đến nay đã có một số công bố quan trọng như:

SARS-CoV-2 không phải là từ phòng thí nghiệm hoặc bị thao túng có chủ đích

SARS-CoV-2 gây ra COVID-19 có thể được tái tổ hợp từ 2 vi rút khác nhau

Dơi, rắn hay tê tê đã truyền virus corona mới cho người?

Một nghiên cứu gần đây cũng đã phát hiện ra rằng trình tự di truyền của một coronavirus, được phát hiện trong các mẫu phổi của tê tê Malaya (Manis javanica), rất giống với SARS-CoV-2. Hai virus chia sẻ 91% trình tự di truyền của chúng [1].

Có một sự tương đồng đặc biệt mạnh mẽ giữa các protein gai vỏ (spike protein) của hai loại virus này. Protein gai vỏ có trên bề mặt của coronavirus, được virus sử dụng để xâm nhập vào tế bào động vật. Virus corona từ dơi, là tổ tiên của SARS-CoV-2, có 19 axit amin trên protein gai vỏ khác với SARS-CoV-2; trong khi đó virus corona từ tê tê chỉ có 5 axit amin khác với SARS-CoV-2. Trong khi đó, một số nhóm nghiên cứu khác đã tìm thấy bằng chứng thực nghiệm về việc tê tê bị nhiễm virus corona rất giống với SARS-CoV-2 [2][3].

Cụ thể, nghiên cứu đã báo cáo việc xác định các virus corona liên quan đến SARS-CoV-2 được tìm thấy ở tê tê Malaya (Manis javanica) bị bắt trong các hoạt động chống buôn lậu ở miền nam Trung Quốc. Giải trình tự đa hệ gen của chúng đã xác định các virus corona từ tê tê thuộc về hai dòng phụ của các virus corona liên quan đến SARS-CoV-2, trong đó một dòng có độ tương đồng cao với SARS-CoV-2 trong vùng liên kết với thụ thể. Việc phát hiện ra các dòng của virus corona ở tê tê và sự tương đồng của chúng với SARS-CoV-2 cho thấy rằng tê tê nên được coi là vật chủ trung gian tiềm năng trong sự xuất hiện của virus corona mới và nên được loại bỏ khỏi thị trường tiêu thụ để ngăn ngừa lây truyền bệnh từ động vật sang người [3].

Mối quan hệ tiến hóa của các virus corona từ tê tê và SARS-CoV-2

Nghiên cứu cũng cho rằng mặc dù tê tê hiện là nghi phạm hàng đầu như vật chủ trung gian truyền virus từ dơi sang người, tuy nhiên vẫn cần xem xét các vật chủ trung gian tiềm năng khác. Một virus corona có thể sử dụng nhiều hơn một loài động vật để lây nhiễm cho người. Ví dụ, trong khi cầy hương được biết đến nhiều nhất khi truyền SARS, các động vật khác như chó gấu trúc và lửng ferret cũng có thể mang SARS.

Tương tự, mèo và chồn cũng có thể bị nhiễm SARS-CoV-2 gây ra COVID-19. Vẫn chưa biết trên thực tế liệu con người có thể bị nhiễm virus corona cư trú trong những động vật này hay không.

Hơn nữa, dù kết quả này được công bố trên Tạp chí Nature danh giá nhưng ngay sau khi công bố, một số bình luận dưới bài báo đã bày tỏ sự ngờ vực về mức độ thấp của những thông tin có chất lượng được dẫn chứng trong nghiên cứu này.

Viet’s Post

[1] https://www.mdpi.com/1999-4915/11/11/979
[2] https://www.biorxiv.org/content/10.1101/2020.02.13.945485v1.full.pdf
[3] https://www.nature.com/articles/s41586-020-2169-0_reference.pdf

Vừa tìm thấy vi sinh vật ăn nhựa

Theo công bố trên Tạp chí Frontiers in Microbiology, các nhà khoa học đã xác định được một chủng vi khuẩn có tên là Pseudomonas sp. TDA1 có thể phá vỡ một số thành phần của nhựa polyurethane (PU).

Nhựa tham gia vào thị trường tiêu dùng sau Thế chiến II và kể từ đó, nó được sử dụng theo vô số cách, nhiều trong số đó liên quan đến việc xử lý loại nhựa dùng một lần. Điều này đã tăng thêm tới hàng tấn ô nhiễm nhựa xả rác trên toàn cầu. Người ta ước tính rằng vào cuối năm 2015, 8.300 triệu tấn nhựa đã được tạo ra.

Nhựa polyurethane (PU) được sử dụng trong tủ lạnh, giày dép, đồ nội thất và các sản phẩm khác tận dụng các đặc tính cách điện linh hoạt của nó. Nhựa cũng rất khỏ để bị loại bỏ. Hơn nữa, loại nhựa này được làm từ các polymer sẽ không tan chảy khi chúng được nung nóng, có nghĩa là nó kết thúc tại các bãi chôn lấp nơi hóa chất độc hại rò rỉ ra. Nghiên cứu mới này có thể có câu trả lời cho vấn đề này.

Nhựa đã được thu hồi từ một vị trí có rất nhiều rác nhựa. Chủng vi khuẩn Pseudomonas sp. TDA1 vừa được phát hiện có thể “ăn nhựa” là thành viên của một nhóm vi khuẩn có thể chống chịu tốt với các căng thẳng (stress) bao gồm tiếp xúc với các hợp chất hữu cơ độc hại. Đặc điểm đó cũng được đặt tên là khả năng chống chịu dung môi và là một dạng của vi sinh vật cực trị.

Vi khuẩn có thể sử dụng các hợp chất này như một nguồn carbon, nitơ và năng lượng duy nhất. Phát hiện này thể hiện một bước quan trọng trong việc có thể tái sử dụng các sản phẩm nhựa PU khó tái chế.

Bằng cách phân tích các gen trong bộ gen của vi khuẩn, các nhà nghiên cứu đã xác định các cơ chế được sử dụng bởi vi khuẩn để phân hủy các hóa chất và yếu tố nào giúp chuyển đổi chúng thành năng lượng.

Viet’s Post (Theo Phys.org, Frontiers in Microbiology)

Tài liệu gốc: https://doi.org/10.3389/fmicb.2020.00404

Phục hồi COVID-19: Các nhà nghiên cứu tìm thấy hệ thống miễn dịch có thể chống lại

Các nhà nghiên cứu tại Melbourne đã lập bản đồ các phản ứng miễn dịch từ một trong những bệnh nhân coronavirus mới (COVID-19) đầu tiên của Úc, cho thấy khả năng của cơ thể chống lại virus và phục hồi sau khi bị nhiễm bệnh.

Các nhà nghiên cứu tại Viện Nhiễm trùng và Miễn dịch Peter Doherty (Viện Doherty) – một liên doanh giữa Đại học Melbourne và Bệnh viện Hoàng gia Melbourne – đã có thể thử nghiệm mẫu máu ở bốn thời điểm khác nhau ở một phụ nữ khỏe mạnh ở độ tuổi 40, người đã dương tính với COVID-19 và có các triệu chứng từ nhẹ đến trung bình cần nhập viện.

Được công bố trên tạp chí Nature Medicine, đây là một báo cáo chi tiết về cách hệ thống miễn dịch của bệnh nhân đã phản ứng với virus. Một trong những tác giả của bài báo, tiến sĩ Nguyen Oanh cho biết đây là lần đầu tiên các phản ứng miễn dịch phổ rộng đối với COVID-19 được báo cáo.

Tiến sĩ Nguyễn cũng cho biết, chúng tôi đã xem xét toàn bộ mức độ rộng của phản ứng miễn dịch ở bệnh nhân này bằng kiến ​​thức mà chúng tôi đã phát triển qua nhiều năm để xem xét các phản ứng miễn dịch ở bệnh nhân mắc bệnh cúm.

“Sau ba ngày kể từ khi bệnh nhân được nhập viện, chúng tôi đã thấy một số lượng lớn tế bào miễn dịch, thường là dấu hiệu phục hồi khi nhiễm cúm theo mùa, vì vậy chúng tôi dự đoán rằng bệnh nhân sẽ hồi phục sau ba ngày, đó là điều đã xảy ra.”

Nhóm nghiên cứu được chủ trì bởi Tiến sĩ Irani Thevarajan tại Viện Doherty đã có thể thực hiện nghiên cứu này nhanh chóng nhờ có SETREP-ID, là một nền tảng cho phép lấy mẫu ở những khách du lịch quay trở lại trong trường hợp dịch bệnh truyền nhiễm mới và bất ngờ, chính xác như cách COVID-19 bắt đầu ở Úc.

Làm việc cùng với Giáo sư Kinda Kedzierska của Đại học Melbourne, Trưởng phòng thí nghiệm tại Viện Doherty và là nhà nghiên cứu miễn dịch cúm hàng đầu thế giới, nhóm nghiên cứu đã có thể mổ xẻ phản ứng miễn dịch để phục hồi thành công từ COVID-19, đây có thể là bí mật để tìm một loại vắc xin hiệu quả.

Giáo sư Kedzierska cho biết, mặc dù COVID-19 là do một loại virus mới gây ra, nhưng ở một người khỏe mạnh khác, phản ứng miễn dịch mạnh mẽ giữa các loại tế bào khác nhau có liên quan đến sự phục hồi lâm sàng, tương tự như những gì chúng ta thấy trong bệnh cúm.

“Đây là một bước tiến đáng kinh ngạc trong việc tìm hiểu điều gì thúc đẩy sự phục hồi của COVID-19. Mọi người có thể sử dụng các phương pháp của chúng tôi để hiểu các phản ứng miễn dịch trong các quần thể COVID-19 lớn hơn và cũng hiểu những gì bị thiếu ở những người đã tử vong.”

Tiến sĩ Thevarajan nói rằng theo ước tính hiện tại cho thấy hơn 80% trường hợp COVID-19 là ở mức độ nhẹ đến trung bình và việc hiểu được đáp ứng miễn dịch trong những trường hợp nhẹ này là nghiên cứu rất quan trọng. “Chúng tôi hy vọng bây giờ sẽ mở rộng công việc của mình ra toàn quốc và quốc tế để hiểu lý do tại sao một số người chết vì COVID-19, và phát triển thêm hiểu biết để hỗ trợ ứng phó nhanh chóng với COVID-19 và các loại virus mới nổi trong tương lai”, cô nói.

Viet’s Post

Tham khảo: “Breadth of concomitant immune responses prior to patient recovery: a case report of non-severe COVID-19” by Irani Thevarajan, Thi H. O. Nguyen, Marios Koutsakos, Julian Druce, Leon Caly, Carolien E. van de Sandt, Xiaoxiao Jia, Suellen Nicholson, Mike Catton, Benjamin Cowie, Steven Y. C. Tong, Sharon R. Lewin and Katherine Kedzierska, 16 March 2020, Nature Medicine. DOI: 10.1038/s41591-020-0819-2

Các tác nhân chống vi rút phổ rộng có thể là một giải pháp nhanh cho đại dịch Covid-19

Các loại thuốc hiện tại có thể cung cấp một giải pháp điều trị đầu tay cho sự bùng phát vi rút corona mới.
Số người nhiễm virus corona mới tiếp tục tăng vọt, với hơn 80.000 trường hợp trên toàn thế giới tính đến cuối tháng 2 năm 2020. Nhưng không có vắc xin hay thuốc chữa khỏi trong trước mắt, có nghĩa là các bác sĩ nếu có thể làm điều gì đó thì sẽ tốt hơn là chỉ cung cấp điều trị hỗ trợ cho người bệnh và hy vọng cơ thể họ có thể sống sót sau khi bị nhiễm bệnh.
Tuy nhiên, bây giờ, một nhóm các nhà nghiên cứu châu Âu nói rằng các loại thuốc đã được phê duyệt có thể nắm giữ chìa khóa để điều trị virus mới. Phát hiện của họ đã được công bố trên Tạp chí quốc tế về các bệnh truyền nhiễm (International Journal of Infectious Diseases).
Giáo sư Denis Kainov, tác giả của bài báo và là giáo sư tại Đại học Khoa học và Công nghệ Na Uy (NTNU) cho biết rằng tái sử dụng thuốc là một chiến lược để tạo ra giá trị bổ sung từ một loại thuốc hiện có bằng cách nhắm mục tiêu vào các bệnh khác với mục đích ban đầu. Ví dụ, teicoplanin, oritavancin, dalbavancin và monensin là những kháng sinh được phê duyệt đã được chứng minh là có tác dụng ức chế vi rút corona và các loại virus khác trong phòng thí nghiệm.
Kainov cà các cộng sự nói rằng những thuốc này và các loại thuốc kháng vi rút phổ rộng khác đã được thử nghiệm và là những ứng cử viên tốt để điều trị bệnh, vì hiện tại không có phương pháp điều trị nào cho vi rút corona mới, được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) gọi là Covid-19.

Các thuốc chống vi rút phổ rộng an toàn cho người và khả năng ức chế các nhóm virus corona, từ trang web của drugvirus.info. Các màu sắc, trạng thái khác nhau được thể hiện cho thấy tình trạng phát triển khác nhau của các loại thuốc. Màu xám cho thấy hoạt động chống vi rút chưa được nghiên cứu hoặc báo cáo. Ảnh: drugvirus.info

WHO cho biết, vi rút có thể gây ra các triệu chứng nhẹ bao gồm sổ mũi, đau họng, ho và sốt. Nó có thể nghiêm trọng hơn đối với một số người và có thể dẫn đến viêm phổi hoặc khó thở. Hiếm gặp hơn, bệnh có thể gây tử vong. Người già và những người mắc bệnh nội khoa đã có từ trước (như bệnh tiểu đường và bệnh tim) dường như dễ bị bệnh nặng hơn với vi rút.
Ưu điểm của việc tái sử dụng thuốc là tất cả các chi tiết xung quanh quá trình phát triển thuốc đã được biết đến, từ các bước tổng hợp hóa học và quy trình sản xuất đến thông tin về các giai đoạn thử nghiệm lâm sàng khác nhau.
Do đó, các nhà nghiên cứu cho rằng việc tái định vị các loại thuốc đã ra mắt hoặc thậm chí thất bại đối với các bệnh do vi rút mang lại cơ hội hiếm có trong điều trị, bao gồm xác suất thành công cao hơn đáng kể so với việc phát triển các loại thuốc và vắc xin đặc hiệu vi rút mới, và giảm đáng kể chi phí và thời gian thử nghiệm lâm sàng.
Các nhà khoa học đã xem xét thông tin về việc phát hiện và phát triển các tác nhân chống vi rút phổ rộng, là các loại thuốc nhắm mục tiêu ức chế các loại vi rút từ hai hoặc nhiều họ vi rút khác nhau. Họ đã tóm tắt những gì họ tìm thấy cho 120 loại thuốc đã được chứng minh là an toàn cho con người sử dụng và tạo ra một cơ sở dữ liệu, có thể truy cập tự do. Ba mươi mốt loại thuốc trong số này đã được các nhà nghiên cứu tìm thấy là ứng cử viên có thể dự phòng và điều trị nhiễm Covid-19. Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng các thử nghiệm lâm sàng gần đây đã bắt đầu tìm ra 5 ứng cử viên thuốc có thể điều trị virus Covid-19.
Các nhà nghiên cứu kết luận, trong tương lai, các tác nhân chống vi rút phổ rộng sẽ có tác động toàn cầu bằng cách giảm tỷ lệ mắc và tử vong do virus và các bệnh khác, tối đa hóa số năm sống khỏe mạnh, cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân mắc bệnh và giảm chi phí chăm sóc bệnh nhân.

Viet’s Post (Theo Scitechdaily)
Tham khảo: “Discovery and development of safe-in-man broad-spectrum antiviralagents” by Petter I. Andersen, Aleksandr Ianevski, Hilde Lysvand, AstraVitkauskiene, Valentyn Oksenych, Magnar Bjør ̊as, Kaidi Telling, IrjaLutsar, Uga Dampis, Yasuhiko Irie, Tanel Tenson, Anu Kantele and Denis E. Kainov, 27 February 2020, International Journal of Infectious Diseases. DOI: 10.1016/j.ijid.2020.02.018

100 câu hỏi – đáp về dịch bệnh Covid-19 của Học viện Quân Y

HỎI – ĐÁP CHUNG VỀ DỊCH BỆNH

1. Thế nào là bệnh truyền nhiễm?

Bệnh truyền nhiễm là bệnh lây truyền trực tiếp hoặc gián tiếp từ người hoặc từ động vật sang người do tác nhân gây bệnh truyền nhiễm. Ví dụ: Bệnh cúm mùa lây trực tiếp từ người sang người, bệnh sốt xuất huyết lây từ người sang người qua muỗi đốt, bệnh cúm gia cầm lây từ gia cầm sang người.

2. Thế nào là dịch bệnh truyền nhiễm?

Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 quy định “Dịch là sự xuất hiện bệnh truyền nhiễm với số người mắc bệnh vượt quá số người mắc bệnh dự tính bình thường trong một khoảng thời gian xác định ở một khu vực nhất định”.

Tuy nhiên, khái niệm trên được hiểu với những bệnh đã từng xảy ra trước đó (điển hình là cúm và sốt xuất huyết). Trường hợp hội chứng viêm đường hô hấp cấp nặng (SARS) xuất hiện năm 2002 hay hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS) xuất hiện năm 2012 và dịch Covid-19 lần này là những bệnh mới, lần đầu tiên xuất hiện thì các cơ quan y tế sẽ căn cứ vào khả năng lây lan, mức độ gây tử vong, đã có thuốc đặc trị và vắc xin chưa để cân nhắc xác định dịch.

3. Dịch Covid-19 là gì?

Dịch Covid-19 viết tắt của cụm từ “Coronavirus disease 2019”, là dịch bệnh do virus Corona gây ra và xuất hiện lần đầu năm 2019.

Dịch bệnh này xuất hiện đầu tiên ở thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc, trong đó nhiều người cùng bị viêm đường hô hấp cấp. Tác nhân gây bệnh sau đó được xác định là một chủng mới của virus Corona. Chủng virus mới này được tìm ra năm 2019 nên được ký hiệu là 2019-nCoV (viết tắt của cụm từ “2019 Novel Coronavirus”). Vì thế, ban đầu dịch bệnh này có tên là “Dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona 2019-nCoV”.

Tên dịch bệnh vừa mô tả biểu biện bệnh và tác nhân gây bệnh nên thường rất dài. Để ngắn gọn, trong thời gian đầu giới chuyên môn và các phương tiện truyền thông ở nước ta thường gọi tắt dịch bệnh này là:

– Dịch viêm đường hô hấp cấp do “virus Corona mới” hoặc “virus Corona chủng mới” hoặc “chủng mới của virus Corona” (vì trước đây đã có các dịch viêm đường hô hấp cấp do các chủng virus Corona khác gây ra); hoặc

– Dịch viêm đường hô hấp cấp do 2019-nCoV (chỉ nêu tác nhân gây bệnh); hoặc

– Dịch viêm đường hô hấp cấp do nCoV (nêu ngắn gọn tác nhân gây bệnh nCoV đã đủ để phân biệt với tất cả các chủng virus khác đồng thời dễ phát âm hơn 2019-nCoV).

Vấn đề gọi tên dài dòng, phức tạp và khó phát âm (nhất là cụm từ “2019-nCoV”) không chỉ xảy ra trong tiếng Việt mà ngay cả trong các ngôn ngữ quốc tế khác. Bên cạnh đó, chủng virus này còn được một số phòng thí nghiệm khác ký hiệu là SARS-CoV-2. Sau khi thống nhất các chuyên gia toàn cầu, ngày 11 tháng 02 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã chính thức gọi tên bệnh này là Covid-19 (viết tắt của cụm từ “Coronavirrus disease 2019”) với ý nghĩa là bệnh do virus Corona gây ra và xuất hiện lần đầu năm 2019. Phương thức đặt tên mới này cũng được WHO xác định làm công thức chuẩn để đặt tên những bệnh mới khác có thể xuất hiện trong tương lai, trong đó có quan tâm cả vấn đề dễ phát âm, đầy đủ thông tin, bỏ qua các yếu tố địa danh để tránh nguy cơ phát sinh sự kỳ thị.

4. Khi nào nước ta công bố dịch bệnh?

Điều 30 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 quy định nguyên tắc, thẩm quyền, thời hạn và điều kiện công bố dịch như sau:

1. Việc công bố dịch được thực hiện theo nguyên tắc sau đây: a) Mọi trường hợp có dịch đều phải được công bố.

b) Việc công bố dịch và hết dịch phải công khai, chính xác, kịp thời và đúng thẩm quyền.

2. Thẩm quyền công bố dịch được quy định như sau:

a) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh công bố dịch theo đề nghị của Giám đốc Sở Y tế đối với bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm B và nhóm C.

b) Bộ trưởng Bộ Y tế công bố dịch theo đề nghị của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đối với bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A và đối với một số bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm B khi có từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên đã công bố dịch.

c) Thủ tướng Chính phủ công bố dịch theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế đối với bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A khi dịch lây lan nhanh từ tỉnh này sang tỉnh khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe con người.

3. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị công bố dịch, người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này quyết định việc công bố dịch.

4. Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể điều kiện công bố dịch.

5. Có phải dịch Covid-19 nguy hiểm hơn các dịch bệnh khác nên Thủ tướng Chính phủ công bố dịch?

Việc Thủ tướng Chính phủ công bố dịch bệnh này là thực hiện theo Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 (xem câu 4) vì Covid-19 là bệnh truyền nhiễm nhóm A (nhóm đặc biệt nguy hiểm), đồng thời lại là bệnh mới xuất hiện, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vắc xin.

6. Dịch Covid-19 nguy hiểm như thế nào?

Theo Điều 3 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm, các bệnh truyền nhiễm được phân chia làm 3 nhóm:

– Nhóm A: Là những bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm, lây truyền nhanh; phát tán rộng; tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh.

– Nhóm B: Là các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có khả năng lây truyền nhanh và có thể gây tử vong.

– Nhóm C: Là các bệnh ít nguy hiểm, khả năng lây truyền không nhanh và ít gây tử vong.

Trên cơ sở đó, dịch Covid-19 được Bộ Y tế xếp vào nhóm A – nhóm đặc biệt nguy hiểm vì bệnh có khả năng lây lan nhanh trong cộng đồng, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và cũng chưa có vắc xin phòng bệnh, tỷ lệ tử vong ban đầu được dự báo tới 5% – trên thực tế tại thời điểm này (17/02/2020) đang ở mức khoảng 2%.

7. Dịch Covid-19 xuất hiện như thế nào?

Do những người đầu tiên bị bệnh đều có liên quan đến một địa điểm mua bán động vật hoang dã ở Vũ Hán, Hồ Bắc, Trung Quốc và tác nhân gây bệnh được tìm thấy ở người bệnh là virus Corona – loại virus phổ biến gây bệnh ở động vật; mặt khác chủng virus này hoàn toàn mới nên được cho là virus Corona vốn lưu hành ở động vật đã biến đổi (tiến hóa) thành virus gây bệnh cho người (tương tự virus Corona gây bệnh SARS lây từ cầy hương sang người, virus Corona gây bệnh viêm đường hô hấp Trung Đông lây từ lạc đà sang người). Tiếp đó người hoặc những người đầu tiên nhiễm virus từ động vật lại trở thành nguồn phát tán và lây nhiễm virus sang người khác, làm cho bệnh trở thành dịch bệnh lây truyền từ người sang người.

Một bệnh nếu chỉ lây từ động vật sang người rồi dừng lại ở người bị nhiễm bệnh từ động vật, không tiếp tục lây từ người sang người (như cúm gia cầm) thì việc kiểm soát còn tương đối thuận lợi (cách ly, thậm chí tiêu hủy toàn bộ nguồn phát tán mầm bệnh là động vật). Khi bệnh từ động vật lây sang người rồi lại tiếp tục lây từ người sang người thì việc kiểm soát sẽ trở nên vô cùng khó khăn như SARS, MERS và Covid-19 hiện nay.

Như vậy, sau dịch SARS do virus SARS-CoV lây từ cầy hương sang người, dịch viêm đường hô hấp Trung Đông do virus MERS-CoV lây từ lạc đà sang người; nay dịch Covid-19 cũng do virus Corona lây từ động vật hoang dã (nhiều khả năng từ dơi hoặc tê tê hoặc rắn) sang người, càng có thêm cơ sở để khuyến cáo người dân tránh tiếp xúc với động vật hoang dã. Đặc biệt, việc mua bán, giết thịt động vật hoang dã có nguy cơ nhiễm bệnh rất cao do con người tiếp xúc trực tiếp với các chất bài tiết và thịt sống của động vật hoang dã.

8. Dịch Covid-19 lan truyền bằng cách nào?

Hiện nay, phương thức lây truyền chính xác từ động vật sang người còn chưa rõ; điều chắc chắn là người (hoặc những người) đầu tiên nhiễm virus từ động vật truyền sang có tiếp xúc với nguồn chứa virus do động vật phát tán (chất thải, dịch tiết, thịt sống…). Từ những nguồn này virus gây bệnh

Covid-19 đã nhiễm vào các tế bào ở đường hô hấp của người nhiễm mầm bệnh. Tại đây, virus nhân lên gây bệnh cho đường hô hấp, đồng thời phát tán ra ngoài qua đường hô hấp trên của người bệnh để rồi lây truyền từ người này sang người khác.

Virus lây truyền từ người sang người qua ba đường chính: Giọt bắn, không khí và tiếp xúc bề mặt có virus. Từ trong đường hô hấp của người nhiễm mầm bệnh (có thể có triệu chứng bị bệnh hoặc không), virus Covid-19 được phát tán ra bên ngoài khi người mang mầm bệnh ho, hắt hơi (mà không đeo khẩu trang) làm bắn ra các giọt chất lỏng kích thước từ 5m (micromet) trở lên gọi là giọt bắn làm người xung quanh hít phải các giọt bắn chứa virus và nhiễm bệnh; khi người bệnh ho, hắt hơi hoặc được chăm sóc y tế bằng các thủ thuật hút đờm dãi hoặc khí dung, virus từ đường hô hấp được phát tán ra trong các giọt có kích thước dưới 5m vào không khí làm người xung quanh hít phải không khí chứa virus và nhiễm bệnh; virus từ các giọt bắn hoặc không khí bám vào các bề mặt (khẩu trang, quần áo, đồ dùng xung quanh…), sau đó người khác chạm vào bề mặt này và nhiễm virus gây bệnh.

Từ ba đường lây chính này, các biện pháp dự phòng được khuyến cáo là đeo khẩu trang và rửa tay thường xuyên bằng xà phòng hoặc dung dịch sát trùng.

– Đối với người bệnh có triệu chứng hoặc người mang mầm bệnh không triệu chứng (mới bị nhiễm còn đang ở giai đoạn ủ bệnh hoặc người mang mầm bệnh không triệu chứng thực thụ), đeo khẩu trang là cách hiệu quả để ngăn phát tán giọt bắn ra môi trường xung quanh khi ho hoặc hắt hơi. Những người này cần đeo khẩu trang và cách ly là thể hiện trách nhiệm với cộng đồng, giúp hạn chế nguồn tác nhân gây bệnh truyền nhiễm ra cộng đồng.

– Người chưa nhiễm virus đeo khẩu trang y tế thông thường đúng cách đã có thể ngăn ngừa một cách hiệu quả đường lây nhiễm do giọt bắn.

– Lây qua đường không khí thường chỉ gặp trong tình huống chăm sóc y tế có tiến hành các thao tác khí dung hoặc hút đờm dãi, do vậy chỉ nhân viên y tế hoặc người nhà chăm sóc người bệnh mới cần các loại khẩu trang y tế chuyên dụng như N95.

– Rửa tay thường xuyên, nhất là sau khi tiếp xúc với các bề mặt có nguy cơ cao (che miệng khi ho, hắt hơi; chạm tay vào khẩu trang đã sử dụng, ống tay áo che mũi/miệng khi ho, hắt hơi; tay nắm cửa, nút bấm thang máy, điện thoại di động…), đồng thời tập thói quen không cho tay bẩn vào miệng, mũi, mắt là cách hiệu quả nhất để ngăn cản đường lây qua tiếp xúc bề mặt có virus.

9. Dịch Covid-19 so với dịch SARS và dịch viêm đường hô hấp Trung Đông (MERS), dịch nào nguy hiểm hơn?

Dịch nào nguy hiểm hơn còn tùy thuộc vào tiêu chí đánh giá:

– Tỷ lệ tử vong: Tỷ lệ tử vong do SARS là 9,6%, do MERS trên 30% cao hơn so với Covid-19 (hiện tại khoảng 2%).

– Mức độ lây lan và số người nhiễm: Covid-19 có mức độ lây lan nhanh hơn và số người nhiễm nhiều hơn. Cho đến nay (17/02/2020), toàn thế giới đã có hơn 70 nghìn người nhiễm và hơn 1.700 người tử vong, vượt xa con số nhiễm và tử vong do SARS và MERS cộng lại.

Từ hai tiêu chí trên cho thấy, với cá nhân một người bị nhiễm bệnh thì SARS và MERS nguy hiểm hơn; với cộng đồng thì Covid-19 nguy hiểm và gây thiệt hại nhiều hơn. Nói cách khác, bệnh SARS, bệnh MERS nguy hiểm hơn bệnh Covid-19; còn dịch Covid-19 nguy hiểm hơn dịch SARS và dịch MERS.

Điều này cho thấy mỗi cá nhân đều phải có trách nhiệm lớn trong việc bảo vệ cộng đồng.

10. Dịch Covid-19 sẽ kéo dài bao lâu?

Muốn hết dịch thì cần phải thực hiện tổng hợp tất cả các biện pháp để cắt đứt sự lây nhiễm, không để xuất hiện những ca nhiễm mới. Ngoài các giải pháp do con người thực hiện, điều kiện thời tiết cũng ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại của mầm bệnh ở môi trường và sức đề kháng của con người với mầm bệnh. Dựa vào diễn biến thời tiết và các kết quả thu được từ các biện pháp phòng chống dịch hiện nay, một số nhà dịch tễ học dự đoán dịch sẽ kéo dài khoảng 2 – 3 tháng nữa. Tuy nhiên yếu tố con người vẫn có vai trò quyết định mức độ thiệt hại do dịch bệnh gây ra, đòi hỏi các chính phủ phải triển khai tích cực các biện pháp phòng chống dịch và mỗi người dân phải tuân thủ nghiêm ngặt các biện pháp phòng chống dịch được triển khai.

HỎI – ĐÁP VỀ TÁC NHÂN GÂY BỆNH

11. Tác nhân gây bệnh Covid-19 là gì?

Tác nhân gây bệnh Covid-19 là một chủng virus Corona. Chủng virus gây bệnh Covid-19 khác hẳn với các chủng virus Corona đã biết trước đó nên đã được đặt tên là “virus Corona mới” (Novel Coronavirus – viết tắt là nCoV). Trong danh pháp khoa học, tên chủng virus mới còn có thêm thông tin về năm phát hiện, do vậy tên đầy đủ của chủng virus Corona mới này là “2019 Novel Coronavirus” viết tắt hay ký hiệu là “2019-nCoV”. Ngoài ra, chủng virus này còn được một số phòng thí nghiệm khác gọi là SARS-CoV-2 với ý nghĩa là chủng virus Corona thứ hai gây bệnh có biểu hiện là hội chứng viêm đường hô hấp cấp nặng (SARS). Trên phương diện virus học, virus gây bệnh Covid-19 chính là chủng virus Corona mới có các ký hiệu là “2019-nCoV” hoặc “nCoV” hoặc “SARS-CoV-2”.

Từ ngày 11/02/2020, sau khi WHO chính thức gọi tên bệnh là Covid-19, các phương tiện truyền thông và giới khoa học nhiều nơi trên thế giới cũng có xu hướng gọi tên “virus gây bệnh Covid-19” là “virus Covid-19”. Tài liệu này cũng thống nhất dùng thuật ngữ “virus Covid-19”. Trong một vài ngữ cảnh “nhiễm Covid-19” cũng được hiểu là nhiễm virus gây bệnh Covid-19.

12. Virus Covid-19 có nguồn gốc từ đâu?

Tên gọi Corona bắt nguồn từ đặc điểm nhận dạng virus khi nhìn dưới kính hiển vi điện tử, chúng có các gai nhô ra ở mặt ngoài trông như hình chiếc vương miện.

Corona là một họ virus lớn thường thấy lưu hành và gây bệnh ở động vật. Sau khi dịch viêm đường hô hấp cấp nặng (SARS) xuất hiện ở người vào năm 2002 – 2003, các nhà khoa học xác định được virus Corona gây bệnh SARS (ký hiệu là SARS-CoV) có nguồn gốc từ cầy hương lây sang người. Đến dịch viêm đường hô hấp Trung Đông (MERS) xuất hiện ở người vào năm 2012, các nhà khoa học lại xác định được virus Corona gây bệnh MERS (ký hiệu là MERS-CoV) cũng có nguồn gốc từ động vật (lạc đà). Lần này, khi phân lập được chủng virus mới ở các bệnh nhân đầu tiên bị bệnh ở Vũ Hán cũng thuộc họ Corona và yếu tố khởi phát bệnh có liên quan đến động vật hoang dã nên có thể khẳng định loại virus mới này (Covid-19) cũng có nguồn gốc từ động vật rồi lây sang và gây bệnh cho người.

Như vậy, đã có ba bệnh dịch đặc biệt nguy hiểm do virus Corona có nguồn gốc từ động vật lây sang người là SARS, MERS và Covid-19. Có thể thấy, thế giới tự nhiên đã nhiều lần nhắc nhở con người về việc săn bắt, mua bán, giết thịt động vật hoang dã sẽ có nguy cơ nhiễm bệnh mới thuộc loại đặc biệt nguy hiểm rất cao do quá trình này con người tiếp xúc trực tiếp với các chất bài tiết và thịt sống của động vật hoang dã.

13. Virus Covid-19 có ở đâu trong môi trường xung quanh chúng ta?

Covid-19 là virus có cả ở người và động vật bị bệnh cũng như người và động vật mang virus không có biểu hiện bệnh. Từ người và động vật mang virus, Covid-19 được phát tán ra môi trường xung quanh chủ yếu dưới dạng giọt bắn từ dịch tiết đường hô hấp khi ho, hắt hơi, xì mũi hay khạc nhổ. Các giọt bắn này gây ô nhiễm không khí trong phạm vi bán kính 2m từ nguồn phát tán. Từ không khí, các giọt bắn rơi lên bề mặt các đồ vật như quần áo, bàn ghế, điện thoại, bàn phím máy tính, nút bấm thang máy… gây ô nhiễm trực tiếp các bề mặt này. Nếu ai đó chạm vào bề mặt ô nhiễm trên rồi lại chạm tiếp vào các vật khác như tay nắm cửa, nút bấm thang máy, thành ghế, tay vịn cầu thang, tay vịn trên các phương tiện giao thông… sẽ tiếp tục gây ô nhiễm gián tiếp cho các bề mặt mới này. Như vậy, Covid-19 tồn tại chủ yếu trong không khí ở khoảng cách trong bán kính khoảng 2m xung quanh người mang virus ho, hắt hơi, xì mũi mà không đeo khẩu trang hay lấy tay che mũi, miệng; ở trên bề mặt các đồ vật xung quanh khu vực người ho, hắt hơi, xì mũi, khạc nhổ và có thể cả trên bề mặt các đồ vật bị ô nhiễm thứ phát rất khó xác định.

Từ các lý do trên, hành động đeo khẩu trang khi bị bệnh hoặc nghi ngờ mang mầm bệnh; che mũi, miệng khi ho, hắt hơi khi không đeo khẩu trang; không xì mũi, khạc nhổ nơi công cộng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hạn chế phát tán và gây ô nhiễm virus trong cộng đồng; thường xuyên vệ sinh các đồ vật xung quanh cũng là biện pháp hiệu quả để tránh ô nhiễm (kể cả trực tiếp và gián tiếp) môi trường sống; hạn chế chạm tay vào các bề mặt có nguy cơ ô nhiễm cao, rửa hoặc sát trùng tay thường xuyên, hạn chế bắt tay cũng là các biện pháp hiệu quả để tránh gây ô nhiễm thứ phát. Điều này không chỉ đúng với Covid-19 mà còn đúng với tất cả các bệnh có tác nhân gây bệnh trong đường hô hấp nói chung.

14. Virus Covid-19 có nhân lên trong môi trường tự nhiên không?

Không. Covid-19 nói riêng và virus nói chung không tự nhân lên được. Virus phải “mượn” tế bào sống để nhân lên bằng cách “khống chế” tế bào chủ “làm việc” cho virus. Sau khi nhiễm được vào tế bào virus sẽ kiểm soát tế bào chủ bằng cách cài các gen của virus vào bộ gen của tế bào chủ, bắt tế bào bị nhiễm virus tạo ra các thành phần của virus. Khi đã đủ các thành phần cần thiết, các thành phần này lắp ghép lại với nhau để hình thành nhiều virus mới, đồng thời làm tổn thương cho tế bào bị nhiễm virus.

15. Virus Covid-19 tồn tại bao lâu trong môi trường tự nhiên?

Trong môi trường tự nhiên, virus chỉ tồn tại nguyên dạng và không nhân lên, do vậy thời gian sống của virus trong môi trường tự nhiên là thời gian tồn tại của một thế hệ virus. Thời gian này là bao lâu sẽ phụ thuộc vào bản chất của virus và các điều kiện tự nhiên. Thông thường, ở nhiệt độ lạnh virus sẽ tồn tại lâu hơn, nhất là nhiệt độ lạnh âm sâu; các yếu tố khác như độ ẩm, chất liệu bề mặt (đất, gỗ, sắt…) cũng ảnh hưởng đến thời gian tồn tại của virus; đặc biệt ánh sáng mặt trời có tác dụng tiêu diệt virus rất hiệu quả.

Đã có một số nghiên cứu cho thấy Covid-19 có thể sống được đến vài ngày, thậm chí đến 9 ngày trong môi trường tự nhiên. Vì thế, các biện pháp vệ sinh môi trường có vai trò hết sức quan trọng trong việc triệt tiêu nguồn tác nhân gây bệnh có trong môi trường. Không nên chủ quan cho rằng virus đã bị tiêu diệt bởi các yếu tố từ môi trường. Mặt khác, môi trường sống thông thoáng, có ánh nắng mặt trời cũng có ý nghĩa rất tốt làm giảm bớt các tác nhân gây bệnh, trong đó có virus Covid-19 trong môi trường.

16. Virus Covid-19 lây nhiễm vào con người như thế nào?

Mỗi loại virus có các cấu trúc đặc trưng trên bề mặt hoạt động như những “móc câu” để virus bám vào các cấu trúc phù hợp với loại móc câu ấy (được gọi là thụ thể – receptor) trên bề mặt tế bào chủ để virus chui vào bên trong tế bào. Tế bào nào có cấu trúc giúp các “móc câu” của virus “móc” vào được sẽ là tế bào “nhạy cảm” với virus và bị virus nhiễm vào.

Virus Covid-19 sử dụng protein S làm “móc câu” để gắn vào thụ thể của nó trên bề mặt màng tế bào niêm mạc đường hô hấp của vật chủ, qua đó virus xâm nhập và nhân lên gây bệnh cho cơ thể.

Do các tế bào của đường hô hấp là đích tấn công của virus Covid-19 (trong đó các tế bào niêm mạc ở mũi, họng được cho là cửa ngõ đầu tiên để virus Covid-19 xâm nhập vào cơ thể) nên thường xuyên uống nước ấm, không để họng bị khô là một biện pháp được khuyến cáo để bảo vệ họng, giảm bớt khả năng tấn công của virus vào các tế bào niêm mạc họng.

17. Tôi đang ở nơi được gọi là “vùng dịch” thì có phải là tôi đã bị nhiễm Covid-19 rồi không?

Không hoàn toàn như vậy. Sống trong “vùng dịch” hay “vùng có dịch” là sống ở nơi có dịch đang lưu hành, tức là có người bị bệnh và tác tác nhân gây bệnh đang ở khu vực đó chứ không phải mọi người trong khu vực đó đều là người đã nhiễm Covid-19. Chỉ khi đã có xét nghiệm khẳng định nhiễm virus gây bệnh Covid-19 mới coi là người bị nhiễm bệnh. Đây cũng là lý do làm nảy sinh nguy cơ kỳ thị có liên quan đến địa danh nơi có dịch – điều đã được WHO lưu tâm khi đặt tên các loại bệnh dịch mới.

18. Tôi đang khỏe mạnh nhưng nếu cứ ở vùng có dịch là tôi sẽ bị nhiễm Covid-19 phải không?

Không hoàn toàn như vậy. Sống trong vùng có dịch là sống ở nơi có nguy cơ cao bị nhiễm Covid-19. Mặc dù đang ở nơi có nguy cơ cao nhưng thực hiện tốt các biện pháp kiểm soát nguy cơ (chính là các biện pháp phòng chống dịch đang được các cấp, các ngành và toàn dân triển khai) sẽ không để xảy ra nguy cơ nhiễm bệnh. Làm tốt điều này thì mỗi cá nhân dù đang ở trong vùng dịch cũng sẽ không bị nhiễm bệnh. Cộng đồng trong vùng dịch làm tốt không để có thêm người nhiễm bệnh mới, đồng thời điều trị khỏi cho những người đã nhiễm bệnh và vệ sinh môi trường loại bỏ mầm bệnh thì khu vực đó sẽ hết dịch.

19. Tôi vừa đi cùng chuyến máy bay/chuyến ô tô/toa tàu; ở cùng phòng họp/lớp học với một người vừa được xác định là người nhiễm Covid-19 có nghĩa là tôi cũng đã nhiễm Covid-19 phải không?

Không hoàn toàn như vậy. Trường hợp này được coi là tiếp xúc gần với người bệnh. Bạn cần theo dõi và tự cách ly bản thân trong vòng 14 ngày, vừa để bảo vệ mình vừa để bảo vệ

20. Thế nào là tiếp xúc trực tiếp với người bệnh?

Là tiếp xúc có “da – chạm – da”, hôn hoặc quan hệ tình dục với người bệnh. Tiếp xúc trực tiếp với máu và dịch tiết của cơ thể người bệnh được coi là tiếp xúc trực tiếp với mầm bệnh.

21. Thế nào là tiếp xúc gần với người bệnh?

Là tiếp xúc với bệnh nhân trong cự ly 2m hoặc ở trong cùng một phòng hay khu vực chăm sóc một ca bệnh được khẳng định có bệnh hoặc khả năng bị bệnh trong thời gian kéo dài.

22. Bắt tay có làm lây Covid-19 không?

Không. Cho đến nay chưa có bằng chứng virus Covid-19 có thể xâm nhập qua da vào cơ thể. Tuy nhiên, bắt tay là hành động có nguy cơ cao. Khi tay một người bị nhiễm Covid-19 chạm vào tay người khác có thể truyền virus sang tay người này. Từ bàn tay có virus có thể nhiễm tiếp vào đường hô hấp do các hành động khác như dụi mắt, ngoáy mũi, cho tay lên miệng hoặc kể cả chạm tay lên mặt, tạo cơ hội (dù nhỏ) để virus “bay” vào mũi. Do vậy, thực hành rửa tay/sát trùng tay và không chạm tay vào vùng mặt (đặc biệt là sau khi bắt tay) là biện pháp hiệu quả để ngăn nguy cơ lây nhiễm do bắt tay.

23. Hôn nhau có làm lây Covid-19 không?

Có. Khi hôn, dù hôn môi hay hôn lên trán, lên má đều là tiếp xúc trực tiếp với người bệnh.

24. Sinh hoạt tình dục có làm lây Covid-19 không?

Chưa có nghiên cứu chứng minh Covid-19 có lây qua niêm mạc đường sinh dục hay không và do vậy có lây qua sinh hoạt tình dục ở hình thức giao hợp khác giới hay không. Tuy nhiên, do sinh hoạt tình dục có nhiều hình thức, mức độ và động tác khác nhau nên sinh hoạt tình dục là hành vi có nguy cơ. Nguy cơ lây nhiễm cao hay thấp tùy thuộc mức độ tương tác giữa những người bạn tình tiếp xúc với dịch tiết đường hô hấp của người có Covid-19. Khi mọi việc chưa rõ ràng, nên thực hiện các hành vi tình dục an toàn để vừa có tác dụng bảo vệ người đã nhiễm Covid-19 trước nguy cơ bị nhiễm thêm các bệnh lây truyền qua đường tình dục, vừa bảo vệ bạn tình không bị lây nhiễm Covid-19 từ người nhiễm trước đó.

25. Covid-19 có lây qua thức ăn không?

Chưa có nghiên cứu chứng minh Covid-19 có lây qua đường ăn uống hay không. Mặc dù đã có nghiên cứu cho thấy có Covid-19 trong phân của bệnh nhân và một số bệnh nhân có biểu hiện bị tiêu chảy, điều đó gợi ý rằng Covid-19 có thể gây tổn thương đường tiêu hóa. Do miệng và mũi thông nhau nên chưa biết liệu virus từ đường hô hấp rơi xuống đường tiêu hóa và ra phân hay virus từ thức ăn trong miệng tấn công lên đường hô hấp. Khi chưa thể loại trừ mọi khả năng thì vẫn nên thực hành “ăn chín, uống sôi” để phòng chống dịch. Tuyệt đối không nên ăn tiết canh sống, thịt sống, nhất là của động vật hoang dã.

26. Covid-19 có lây qua đường máu không?

Chưa có thông tin về vấn đề này. Trên quan điểm dự phòng, bệnh Covid-19 là bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm, mọi khuyến cáo về bảo hộ nhân viên y tế đều được đặt lên ở mức cao nhất trước nguy cơ phơi nhiễm với máu của người bệnh. Về phương diện an toàn truyền máu, trong giai đoạn hiện nay chắc chắn người có xét nghiệm dương tính với Covid-19 sẽ không được hiến máu tình nguyện trong những đợt hiến máu tình nguyện đại trà. Trong tương lai, liệu xét nghiệm Covid-19 có được đưa vào nhóm xét nghiệm sàng lọc an toàn truyền máu hay không còn chờ thêm các bằng chứng chắc chắn về việc virus này có lây truyền qua đường máu hay không.

27. Covid-19 có lây từ mẹ sang con không?

Trong đợt dịch này, các nhà khoa học Trung Quốc đã theo dõi 9 trường hợp phụ nữ mang thai nhiễm Covid-19 và đã sinh con. Các xét nghiệm dịch ối, máu dây rốn trẻ sơ sinh có mẹ nhiễm Covid-19 và sữa mẹ không thấy có virus Covid-19. Cùng thêm các thông tin về SARS-CoV và MERS-CoV không lây truyền dọc từ mẹ sang con khiến cho các nhà khoa học tạm kết luận rằng Covid-19 không lây truyền dọc từ mẹ sang con. Mặc dù vậy, các quan sát mới chỉ thực hiện ở 9 ca bệnh nên cần có số liệu của nhiều người hơn để có thể kết luận chắc chắn về vấn đề này.

Lưu ý: Lây nhiễm dọc được hiểu là lây từ mẹ sang con qua nhau thai. Việc cách ly con khỏi mẹ để tránh lây nhiễm qua đường hô hấp hoặc đường tiếp xúc trực tiếp vẫn là cần thiết.

28. Virus Covid-19 gây bệnh như thế nào?

Sau khi nhiễm được vào tế bào niêm mạc đường hô hấp, Covid-19 cài các gen của virus vào bộ gen của tế bào chủ, bắt tế bào bị nhiễm virus tạo ra các thành phần của virus. Khi đã đủ các thành phần cần thiết, các thành phần này lắp ghép lại với nhau để hình thành nhiều virus mới chui ra ngoài đồng thời làm tổn thương cho tế bào bị nhiễm virus.

Trình tự các bước bao gồm: Dịch mã gen sao chép từ RNA gen của virion. Đầu tiên, chúng tổng hợp ra sợi ARN >> các protein cấu trúc virus S, E và M được chuyển vào lưới nội bào (ER) và di chuyển vào khoang trung gian reticulum – Golgi (ERGIC) >> Nucleocapsid >> các hạt virion trưởng thành (tức là các virus mới). Các virus mới hình thành và tiếp tục lây nhiễm sang các tế bào lành khác hoặc theo dịch tiết đường hô hấp được đào thải ra ngoài trở thành nguồn lây nhiễm cho người xung quanh.

29. Virus Covid-19 gây bệnh cho cơ quan nào?

Biểu hiện bệnh chủ yếu của người nhiễm Covid-19 là viêm đường hô hấp cấp có nghĩa là Covid-19 gây bệnh cho đường hô hấp.

Một số bệnh nhân nhiễm Covid-19 còn có biểu hiện tiêu chảy và xét nghiệm có virus trong phân. Dù chưa chắc chắn nhưng không loại trừ khả năng Covid-19 gây tổn thương cho các tế bào niêm mạc khác, trong đó có đường tiêu hóa.

Trong số các bệnh nhân bị bệnh kết hợp còn thấy hiện tượng tổn thương chức năng của các tạng khác như gan, thận… Tuy nhiên, đây là hậu quả trực tiếp do virus tấn công hay hậu quả gián tiếp từ tổn thương phổi còn đang được các nhà khoa học làm rõ hơn.

30. Covid-19 có gây quái thai không?

Một số virus nhiễm vào phụ nữ mang thai gây ảnh hưởng đến thai nhi như virus cúm gây sứt môi hở hàm ếch, virus Zika gây bệnh đầu nhỏ; một số virus có thể gây sẩy thai như Rubella. Chưa thể trả lời được liệu Covid-19 có thể gây ảnh hưởng gì lên thai nhi. Trên thực tế, cần theo dõi dài ngày hậu quả thai sản của những trường hợp bệnh nhân là phụ nữ mang thai nhiễm Covid-19 ở các giai đoạn sớm của thai kỳ.

HỎI – ĐÁP VỀ ĐỀ KHÁNG CHỐNG VIRUS

31. Tại sao có người nhiễm Covid-19 thì bị bệnh, có người không bị bệnh?

Khi bị nhiễm mầm bệnh, một người có bị bệnh hay không sẽ phụ thuộc vào các yếu tố từ mầm bệnh và các yếu tố từ người bị nhiễm mầm bệnh. Bị bệnh hay không là kết quả của cuộc chiến giữa mầm bệnh và con người, nếu mầm bệnh thắng thì người đó sẽ bị bệnh. Cùng một người nhưng nếu bị nhiễm với số lượng virus ít và độc lực của virus thấp có thể sẽ không phát thành bệnh; cùng lượng virus nhưng khả năng đề kháng chống virus của mỗi người khác nhau, trong đó người có sức đề kháng tốt có thể không bị bệnh. Vì vậy, bên cạnh việc bảo vệ bản thân hạn chế lây nhiễm mầm bệnh, luyện tập làm tăng sức đề kháng chung cũng góp phần phòng chống bệnh tật, đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng.

32. Có ai có đề kháng tự nhiên với Covid-19 hay không?

Hoàn toàn có thể có. Những người có đột biến gen mã hóa thụ thể dành cho virus làm cho virus không thể chui được vào bên trong tế bào là người có khả năng đề kháng tự nhiên với virus. Điều này đã được khẳng định ở trường hợp của HIV.

Tuy nhiên, còn quá sớm để tìm ra người có đề kháng tự nhiên với Covid-19. Hy vọng công nghệ giải mã bộ gen người hiện nay đã rất phát triển cho phép giải trình tự toàn bộ bộ gen người trong thời gian ngắn và giá thành thấp sẽ tạo điều kiện sàng lọc trong số những người nhiễm hoặc phơi nhiễm với Covid-19 nhưng không bị bệnh. Bằng cách đó có thể sẽ tìm ra được những người có đột biến gen tạo khả năng đề kháng tự nhiên với Covid-19.

33. Cơ thể người đề kháng với Covid-19 như thế nào?

Là một virus hoàn toàn mới, lần đầu tiên xuất hiện ở người nên chưa ai có đề kháng đặc hiệu với virus. Vì vậy, cơ thể người mới nhiễm Covid-19 lần đầu tiên sẽ đề kháng chống virus bằng những phương thức tự nhiên không đặc hiệu trước (chủ yếu là các yếu tố hóa học trong dịch tiết của niêm mạc đường hô hấp). Nếu cơ chế này chiến thắng thì người đó không bị bệnh. Nếu cơ chế này thất bại thì người đó bị nhiễm mầm bệnh vào bên trong các tế bào. Lúc này, hệ thống miễn dịch của cơ thể người nhiễm virus sẽ phát triển các cơ chế đề kháng đặc hiệu để loại bỏ virus và cả các tế bào đã bị nhiễm virus. Đây là cuộc chạy đua giữa một bên là sức tấn công hủy diệt của virus với một bên là sức đề kháng của cơ thể khống chế sự nhân lên và loại bỏ virus cộng với khả năng tái tạo lại các tế bào đã bị tổn thương do virus. Nếu virus thắng thì bệnh sẽ tiến triển, nếu hệ miễn dịch thắng thì người bệnh khỏi bệnh.

34. Sau khi nhiễm Covid-19 bao lâu thì có kháng thể?

Quá trình này cần có thời gian ít nhất là 1 tuần hoặc muộn hơn tùy theo từng người, tương tự như thời gian từ khi tiêm vắc xin đến khi bắt đầu có kháng thể đặc hiệu.

Khoảng thời gian này thường được gọi là “giai đoạn cửa sổ” kể từ khi nhiễm mầm bệnh đến khi có thể gián tiếp phát hiện nhiễm mầm bệnh thông qua xét nghiệm tìm kháng thể mà người đó tạo ra để chống lại mầm bệnh đã nhiễm.

Hiện nay, việc xét nghiệm tìm kháng thể IgM kháng Covid-19 cũng đã bắt đầu được áp dụng để phát hiện người nhiễm Covid-19. Tuy nhiên, đây chỉ là bằng chứng gián tiếp, đồng thời xét nghiệm này có nhược điểm là phải qua “giai đoạn cửa sổ” rồi mới phát hiện được.

35. Người bị bệnh do Covid-19 một lần đã khỏi có bị lại bệnh này nữa không?

Có thể có hoặc không tùy theo từng điều kiện nhất định. Nếu Covid-19 tạo được miễn dịch bền vững như virus sởi hoặc quai bị thì không bị lại; tuy nhiên điều này chưa thể khẳng định được vì còn quá sớm. Nếu miễn dịch không bền vững, trong giai đoạn đầu mới khỏi bệnh, lượng kháng thể đủ mạnh thì có thể không bị lại, nhưng đến giai đoạn sau, lượng kháng thể đặc hiệu mất dần đi thì vẫn có thể bị lại. Trong trường hợp này thì cần sử dụng vắc xin để khôi phục lại khả năng đề kháng chống virus.

36. Có thể lấy huyết tương của người bị bệnh Covid-19 đã khỏi bệnh để chữa cho người đang bị bệnh hay không?

Có. Vì trong huyết tương (thành phần dịch lỏng của máu) người bị bệnh đã khỏi có các kháng thể chống lại tác nhân gây bệnh. Chính các kháng thể này là “vũ khí” giúp cơ thể người bệnh chống lại các tác nhân gây bệnh, góp phần giúp người đó khỏi bệnh. Truyền huyết tương (hoặc sản phẩm kháng thể tinh chế) của người bị bệnh đã khỏi cho người đang bị bệnh chính là truyền các yếu tố đã giúp người này khỏi bệnh sang cho người khác đang bị bệnh, tương tự như cung cấp “vũ khí” cho người ấy để đánh giặc. Phương pháp này đã được các bác sĩ Hồng Kông áp dụng với bệnh nhân SARS trước đây. Điều này đòi hỏi người khỏi bệnh phải thực sự khỏi bệnh (không còn virus trong người), xét nghiệm máu có kháng thể trung hòa được virus Covid-19 và người đó đủ sức khỏe có thể hiến máu tách huyết tương chứa kháng thể kháng Covid-19 để truyền cho bệnh nhân. Ngoài ra, còn phải xem xét các yếu tố khác, bao gồm cả hòa hợp nhóm máu ABO và các xét nghiệm an toàn truyền máu khác, để tránh các tai biến trong điều trị bằng huyết thanh. Thực tế hiện nay, các bác sĩ Trung Quốc cũng đang bắt đầu nghiên cứu thí điểm biện pháp này cho các bệnh nhân nặng.

37. Covid-19, SARS-CoV và MERS-CoV đều là virus Corona, người bị SARS hoặc MERS đã khỏi bệnh có bị bệnh do Covid-19 nữa hay không?

Việc các virus trong cùng một họ và có bộ gen gần tương đồng mở ra hy vọng có thể có miễn dịch bảo vệ chéo giữa các loại virus này. Tuy nhiên, điều này chỉ là phỏng đoán và cần có bằng chứng thử nghiệm thực tế giữa huyết thanh kháng SARS-CoV hoặc MERS-CoV với Covid-19 mới có thể trả lời được một cách chắc chắn.

38. Tại sao dùng vắc xin dự phòng được bệnh?

Vắc xin là chế phẩm chứa kháng nguyên tạo cho cơ thể khả năng đáp ứng miễn dịch, được dùng với mục đích phòng bệnh. Dùng vắc xin được ví như sử dụng “quân xanh” trong các cuộc diễn tập cho cơ thể “rèn luyện” cách đánh với một loại “địch” cụ thể nhằm tạo ra phương án đánh địch tối ưu.

Có thể coi dùng vắc xin như công việc huấn luyện, chuẩn bị trước cho hệ miễn dịch các phương án đánh địch, sẵn sàng chiến đấu một cách nhanh, mạnh và hiệu quả nhất khi “kẻ thù” là mầm bệnh thực thụ xâm nhập vào cơ thể.

39. Hiện nay đã có vắc xin phòng bệnh Covid-19 chưa?

Chưa. Mặc dù đã biết chắc chắn mầm bệnh và đã phân lập, nuôi cấy được Covid-19 nhưng không thể dùng ngay virus Covid-19 sống để làm vắc xin vì các vấn đề về an toàn và hiệu quả của vắc xin. Vắc xin phải bảo đảm yêu cầu chỉ có tác dụng kích thích tạo miễn dịch bảo vệ và không được gây bệnh cũng như các tai biến, biến chứng do dùng vắc xin. Vì vậy, cần có thời gian nhất định mới tạo ra được sản phẩm vắc xin đảm bảo chất lượng đủ để sử dụng cho con người.

40. Khi nào thì có vắc xin phòng bệnh Covid-19?

Đã có một số phòng thí nghiệm công bố sắp chế tạo thành công vắc xin phòng bệnh Covid-19. Tuy nhiên, một vắc xin mới còn phải trải qua rất nhiều thử nghiệm để đánh giá tính an toàn và hiệu quả bảo vệ. Theo Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), dự kiến nhanh nhất là 1 năm nữa mới có vắc xin phòng bệnh Covid-19 trên thị trường.

HỎI – ĐÁP VỀ BỆNH

41. Người bị bệnh Covid-19 có biểu hiện gì?

Các triệu chứng lâm sàng ban đầu hay gặp là sốt, ho khan, mệt mỏi, đau cơ. Một số trường hợp có thể có đau họng, ngạt mũi, chảy nước mũi, đau đầu, ho có đờm, nôn và tiêu chảy. Những trường hợp nặng xuất hiện viêm phổi; khó thở do viêm phổi nặng, hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS); suy chức năng các cơ quan. Các triệu chứng của bệnh xuất hiện sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh từ 02 – 14 ngày.

42. Bị nhiễm Covid-19 nếu không được điều trị có thể dẫn đến những hậu quả gì?

Người nhiễm Covid-19 có thể tiến triển ở nhiều mức độ khác nhau, nhẹ thì có thể tự khỏi, nặng có thể diễn biến đến viêm phổi nặng, suy hô hấp cấp tiến triển, suy chức năng các cơ quan dẫn tới tử vong. Theo số liệu đã công bố hiện nay, tỷ lệ tử vong khoảng trên 2%. Bệnh diễn biến nặng thường xuất hiện ở những người có bệnh mạn tính, suy giảm miễn dịch.

43. Tôi đang tự theo dõi vì nghi ngờ mình bị nhiễm Covid-19, khi có dấu hiệu gì thì tôi phải báo ngay cho cơ quan y tế?

Theo quy định hiện nay của Bộ Y tế, người đến, ở và về từ nơi có dịch hoặc tiếp xúc với người nghi bị nhiễm Covid-19 trong vòng 14 ngày phải báo cho cơ quan y tế để được theo dõi và cách ly. Khi có dấu hiệu ho, sốt, khó thở cần đeo khẩu trang thường xuyên và đến cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn, khám và điều trị kịp thời.

44. Có phải cứ ho, sốt là bị bệnh do Covid-19 hay không?

Ho, sốt là biểu hiện của nhiều bệnh lý cấp và mạn tính khác nhau liên quan đến đường hô hấp. Bệnh do Covid-19 là một bệnh viêm đường hô hấp cấp. Có nhiều nguyên nhân có thể gây viêm đường hô hấp cấp tính như các loại vi khuẩn gây bệnh; các loại virus như virus cúm mùa, virus á cúm, virus hô hấp hợp bào… Do đó, không phải cứ có ho, sốt là đều biểu hiện bị bệnh do Covid-19.

Người bệnh bị ho, sốt mà có đến, ở và về từ nơi có dịch hoặc tiếp xúc với người nghi bị nhiễm Covid-19 trong vòng 14 ngày thì cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn, khám và xét nghiệm chẩn đoán bệnh có do Covid-19 hay không.

45. Để khẳng định chắc chắn bị bệnh do Covid-19 thì cần làm những xét nghiệm gì?

Theo quy định hiện nay của Bộ Y tế, xét nghiệm khẳng định chắc chắn bị bệnh do Covid-19 được tiến hành tại các cơ sở y tế được Bộ Y tế cho phép thực hiện và công bố kết quả xét nghiệm. Hiện nay, kỹ thuật xác định Covid-19 gồm kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) và kỹ thuật Real time RT-PCR với bệnh phẩm là dịch đường hô hấp, đờm, dịch nội khí quản được thu thập và bảo quản trong môi trường phù hợp.

46. Nếu chỉ ho, sốt, khó thở nhẹ, tôi có phải đi bệnh viện không?

Nếu bị ho, sốt mà có khó thở dù khó thở nhẹ cũng nên đến cơ sở y tế để được khám và xác định nguyên nhân gây bệnh, vì trong khi chưa được chẩn đoán và điều trị phù hợp, khó thở nhẹ có thể tiến triển thành khó thở nặng.

Theo quy định hiện nay của Bộ Y tế, nếu sốt, ho, khó thở mà trong vòng 14 ngày trước đó, người bệnh có đến, ở và về từ nơi có dịch hoặc tiếp xúc với người nghi bị nhiễm Covid-19 thì ngay lập tức phải đeo khẩu trang, đến cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn, khám, điều trị kịp thời. Cần gọi điện cho cơ sở y tế trước khi đến để thông tin về các triệu chứng và lịch trình đã di chuyển trong thời gian gần đây để có biện pháp hỗ trợ đúng.

47. Để cho yên tâm, tôi có nên đến thẳng các bệnh viện lớn tuyến trung ương để khám và làm xét nghiệm không?

Nói chung, khi bị mắc bệnh, người bệnh cần đến cơ sở y tế gần nhất để được chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh, tiên lượng bệnh và điều trị. Nếu cần thiết, người bệnh sẽ được chuyển tuyến trên.

Đối với bệnh do Covid-19, theo quy định của Bộ Y tế và tình hình dịch như hiện nay, người bệnh nghi ngờ mắc viêm đường hô hấp cấp tính do Covid-19 được tiếp nhận và theo dõi cách ly triệt để, điều trị ở bệnh viện tuyến huyện trở lên; khi cần thiết, người bệnh sẽ được chuyển tuyến trên. Do đó, nếu nghi bị mắc bệnh do Covid-19, người bệnh nên đến bệnh viện tuyến huyện trở lên gần nhất, không nhất thiết phải đến thẳng các bệnh viện lớn tuyến trung ương để khám và làm xét nghiệm.

Nếu tình hình dịch diễn biến phức tạp hơn, tùy theo cấp độ dịch, Bộ Y tế và Cục Quân y có thể sẽ đưa ra các quy định khác về phân tuyến, chuyển tuyến cách ly và điều trị người bệnh.

48. Hiện nay đã có thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh Covid-19 chưa?

Hiện nay, Tổ chức Y tế Thế giới và các tổ chức y tế khác chưa có khuyến cáo thuốc điều trị đặc hiệu nào cho viêm phổi do Covid-19. Một số thuốc kháng virus đang được nghiên cứu về hiệu quả điều trị và tính an toàn cho bệnh nhân Covid-19.

49. Thông tin về thuốc điều trị HIV chữa được Covid-19 là đúng hay sai?

Hiện nay, các nhà khoa học Trung Quốc và một số nước trên thế giới đang nghiên cứu hiệu quả điều trị và tính an toàn của thuốc điều trị HIV (Antiretroviral: ARV) để điều trị Covid-19. Tuy nhiên, chưa có công bố chính thức về các kết quả nghiên cứu này.

50. Hiện nay các biện pháp chính để điều trị bệnh do Covid-19 là gì?

Do chưa có thuốc điều trị đặc hiệu nên việc điều trị hỗ trợ nâng đỡ thể trạng, sức đề kháng và điều trị triệu chứng là chủ yếu. Cần theo dõi và phát hiện sớm, xử trí kịp thời các ca bệnh nặng, nguy kịch như suy hô hấp hoặc suy các tạng khác.

HỎI – ĐÁP VỀ BIỆN PHÁP PHÒNG BỆNH

CÁCH LY

51. Cách ly y tế là gì?

Cách ly y tế là việc tách riêng người mắc bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm bệnh truyền nhiễm hoặc vật có khả năng mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nhằm hạn chế sự lây truyền bệnh.

52. Tại sao khi có dịch Covid-19 lại phải tiến hành cách ly y tế?

Theo Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, Covid-19 là bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm nên bắt buộc phải tiến hành các biện pháp cách ly y tế.

53. Có những hình thức cách ly y tế nào?

– Cách ly tại nhà, nơi lưu trú: Áp dụng với các bệnh dịch thông thường, ít có nguy cơ gây hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng.

– Cách ly tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (bệnh viện): Áp dụng với các bệnh dịch có nguy cơ cao, gây hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng.

– Cách ly nghiêm ngặt: Là hình thức cách ly cao nhất “nội bất xuất – ngoại bất nhập”. Nghĩa là người đang ở khu vực cách ly nghiêm ngặt thì không được ra khỏi khu vực cách ly cho đến khi có quyết định kết thúc cách ly của cơ quan có thẩm quyền. Ngược lại, người đang ở ngoài khu vực cũng không được vào cho đến khi kết thúc cách ly.

54. Thế nào là cách ly y tế tập trung?

Cách ly y tế tập trung là khi một nhóm người có nguy cơ mắc bệnh (ví dụ: Nhóm người này vừa từ vùng có dịch trở về) thì được tập trung tại một khu vực (có thể là doanh trại quân đội, bệnh viện dã chiến…) để cách ly theo quy định.

55. Thế nào là tự cách ly?

Tự cách ly là việc tự cá nhân bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm nhưng chưa có triệu chứng bị bệnh hoặc đã xét nghiệm âm tính với mầm bệnh nhưng nghi ngờ chưa thực sự hết khả năng lây nhiễm chủ động cách ly bản thân nhằm hạn chế sự lây truyền bệnh.

56. Những người nào thuộc diện phải cách ly trong đợt dịch Covid-19 này?

Theo quy định hiện nay của Bộ Y tế, người mắc bệnh dịch, người bị nghi ngờ mắc bệnh dịch, người mang mầm bệnh dịch, người tiếp xúc với tác nhân Covid-19 đều phải được cách ly.

a. Cách ly tại nhà, nơi lưu trú

Những người không có các triệu chứng nghi nhiễm Covid-19 (ho, sốt, khó thở) và có một trong những yếu tố sau đây:

– Sống trong cùng nhà, nơi lưu trú với trường hợp bệnh xác định hoặc trường hợp bệnh nghi ngờ trong thời gian mắc bệnh.

– Cùng làm việc với trường hợp bệnh xác định hoặc trường hợp bệnh nghi ngờ trong thời gian mắc bệnh.

– Cùng nhóm du lịch, đoàn công tác, nhóm vui chơi với trường hợp bệnh xác định hoặc trường hợp bệnh nghi ngờ trong thời gian mắc bệnh.

– Có tiếp xúc gần trong vòng 2m với trường hợp bệnh xác định hoặc trường hợp bệnh nghi ngờ trong trong thời gian mắc bệnh ở bất kỳ tình huống nào.

– Ngồi cùng hàng hoặc trước – sau hai hàng ghế trên cùng một chuyến xe/toa tàu/máy bay với trường hợp bệnh xác định hoặc trường hợp bệnh nghi ngờ.

– Người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam từ Trung Quốc hoặc từng đi qua Trung Quốc (trừ tỉnh Hồ Bắc) trong vòng 14 ngày kể từ ngày nhập cảnh.

b. Cách ly tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (bệnh viện)

Những người đã mắc bệnh Covid-19 sẽ được cách ly tại bệnh viện theo quy định và theo chỉ định của bác sĩ cho đến khi khỏi bệnh và hết thời gian cách ly sẽ được về nhà.

c. Cách ly nghiêm ngặt

Áp dụng với toàn bộ những người đang ở trong một khu vực xác định (ví dụ: Một thôn/bản hoặc một xã) hoặc ở một đơn vị, cơ quan nào đó mà có quyết định cách ly nghiêm ngặt thì đều phải cách ly. Không ai được ra khỏi khu vực cách ly cho đến khi có quyết định kết thúc cách ly của cơ quan có thẩm quyền, bất kể người đó có hay không có nguy cơ mắc bệnh.

57. Người đang bị bệnh Covid-19 chưa khỏi thì phải áp dụng hình thức cách ly nào và thời gian cách ly trong bao lâu?

Người mắc bệnh truyền nhiễm là người bị nhiễm tác nhân gây bệnh truyền nhiễm có biểu hiện triệu chứng bệnh. Theo quy định hiện nay của Bộ Y tế, người đang bị bệnh phải áp dụng cách ly nghiêm ngặt và cách ly cho đến khi điều trị khỏi, hết triệu chứng, có xét nghiệm virus tối thiểu 2 lần âm tính. Sau khi ra viện, vẫn phải tự cách ly ở nhà đủ trong 14 ngày.

58. Người đang bị ho, sốt, khó thở mới chỉ nghi ngờ bị bệnh Covid-19 chưa có khẳng định chắc chắn thì phải áp dụng hình thức cách ly nào, thời gian cách ly trong bao lâu và tại sao?

Người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm là người tiếp xúc hoặc người có biểu hiện triệu chứng bệnh truyền nhiễm nhưng chưa rõ tác nhân gây bệnh.

Theo quy định hiện nay của Bộ Y tế, người đang bị sốt, ho, khó thở nghi ngờ mắc Covid-19 phải đến ngay cơ sở y tế khám, nhập viện và thực hiện cách ly bắt buộc. Thực hiện ngay bằng các biện pháp dự phòng lây nhiễm gồm vệ sinh đường hô hấp khi ho, hắt hơi (đeo khẩu trang, rửa tay khi tiếp xúc với dịch tiết đường hô hấp, hạn chế tiếp xúc với người khác, nếu có thì phải cách xa > 2m), thực hiện cách ly bắt buộc nếu có yếu tố dịch tễ (trở về từ vùng có dịch, tiếp xúc hoặc tiếp xúc gần với người bệnh mắc Covid-19…). Tiến hành lấy mẫu xét nghiệm Covid-19 để xác định ca bệnh.

Thời gian cách ly tối thiểu là 14 ngày kể từ ngày phát hiện triệu chứng hoặc đến khi có xét nghiệm Covid-19 âm tính.

59. Người không có biểu hiện bệnh mới chỉ nghi ngờ bị nhiễm Covid-19 (do trước đó nghi có tiếp xúc với mầm bệnh) thì phải áp dụng hình thức cách ly nào, thời gian cách ly trong bao lâu và tại sao?

Theo quy định hiện nay của Bộ Y tế, người không có triệu chứng gì nhưng trước đó có tiếp xúc với người bệnh/nghi ngờ mắc bệnh thì chỉ cần áp dụng cách ly tại nhà nhưng phải thông báo cho cơ sở y tế biết. Người này nên đeo khẩu trang khi tiếp xúc người khác, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng sau khi có tiếp xúc với dịch tiết của cơ thể. Thông báo ngay khi có dấu hiệu ho, sốt, khó thở. Thời gian cách ly cũng là 14 ngày.

60. Tại sao người đi về từ vùng có dịch dù không có biểu biện bị bệnh hoặc nghi ngờ tiếp xúc với mầm bệnh vẫn phải tiến hành cách ly?

Vì những người này hoàn toàn có thể lây nhiễm virus từ vùng có dịch nhưng chưa có biểu hiện bệnh. Nhóm người này cần cách ly để đảm bảo an toàn cho cộng đồng. Nếu không cách ly nhóm người này mà họ có xuất hiện triệu chứng bệnh thì số người phải cách ly tiếp theo là rất lớn và rất khó kiểm soát triệt để.

61. Người từ vùng dịch làm nhiệm vụ trở về có phải tiến hành cách ly không?

Những người được phân công vào làm nhiệm vụ ở nơi có dịch (như nhân viên y tế hoặc nhân viên cung ứng lương thực, thực phẩm, thuốc men cho vùng dịch…) thường đã được bảo đảm các phương tiện bảo vệ cá nhân và đã được huấn luyện thuần thục các biện pháp phòng chống dịch. Hoạt động này được thực hiện theo những quy trình nghiêm ngặt và được giám sát chặt chẽ. Tùy theo mức độ công việc của người đó, cũng như thao tác kỹ thuật phòng chống dịch mà người đó thực hiện…, các cơ quan chức năng sẽ quyết định mức độ cách ly của những người này.

62. Một nhóm người đi về từ vùng có dịch nên được tổ chức cách ly tập trung trong theo kế hoạch 14 ngày; ban đầu tất cả không có biểu hiện bệnh nhưng ngày thứ 10 thì có một người sốt nên người này được chuyển đi nơi khác để điều trị và theo dõi thêm, những người còn lại đến ngày thứ 14 cũng không có ai bị sốt vậy, những người này sẽ được ra khỏi nơi cách ly hay vẫn tiếp tục phải cách ly?

Nhóm người này đi về từ vùng dịch được cách ly đến ngày thứ 10 thì xuất hiện một người có sốt thì phải cách ly người này và xét nghiệm xác định ca bệnh. Nếu dương tính với Covid-19 thì thời gian cách ly những người tiếp xúc gần phải tiếp tục thêm 14 ngày kể từ ngày người bệnh kia bị sốt. Nếu xét nghiệm âm tính thì chỉ cần cách ly đủ 14 ngày theo kế hoạch.

63. Tại sao phải hạn chế đi lại với những người đang sống trong vùng có dịch mặc dù họ không có biểu biện bị bệnh hoặc nghi ngờ tiếp xúc với người bệnh?

Việc hạn chế đi lại của những người trong vùng có dịch giúp làm giảm nguy cơ lây nhiễm cho những người khác, đặc biệt là những người không có biểu hiện dấu hiệu lâm sàng (trong thời kỳ ủ bệnh) được chứng minh là vẫn có thể lây lan mạnh.

64. Những người đang sống trong vùng có dịch cần phải hạn chế đi lại cho đến khi nào và tại sao?

Những người sống trong vùng dịch được yêu cầu hạn chế đi lại vì như vậy sẽ giảm nguy cơ lây nhiễm trong cộng đồng, nguyên nhân do những người không có biểu hiện dấu hiệu lâm sàng (trong thời kỳ ủ bệnh) được chứng minh là vẫn có thể lây lan cho những người khác thông qua dịch tiết đường hô hấp và tiếp xúc thông thường. Việc hạn chế đến khi nào sẽ do cơ quan chức năng quyết định trên cơ sở cân nhắc nhiều yếu tố, trong đó có thời gian ủ bệnh, thời điểm cuối cùng không có ca nhiễm mới và thời điểm bệnh nhân cuối cùng khỏi bệnh.

65. Một người đang ở trong vùng có dịch, ban đầu khỏe mạnh, sau đó tự nhiên bị sốt thì có phải là đã bị nhiễm Covid-19 hay không?

Không chắc chắn vì sốt là triệu chứng của rất nhiều bệnh, tuy nhiên người có sốt thì cần phải tự cách ly, kiểm tra y tế và theo dõi. Nếu xuất hiện thêm dấu hiệu hô hấp cần đến cơ sở y tế khám, sàng lọc và xét nghiệm Covid-19 để khẳng định có bị bệnh hay không.

GIÁM SÁT THÂN NHIỆT

66. Tại sao lại cần tiến hành giám sát thân nhiệt để kiểm soát dịch bệnh?

Giám sát thân nhiệt chỉ là một biện pháp kiểm soát dịch bước đầu để phát hiện người có sốt khi nhập cảnh, khám bệnh…

Hầu hết các ca bệnh nhiễm Covid-19 đều có sốt nên đây là bước sơ bộ để kiểm soát dịch vì đơn giản và dễ thực hiện. Tuy nhiên, biện pháp quan trọng vẫn là phát hiện sớm, cách ly và phòng ngừa trong lây nhiễm Covid-19.

67. Ngoài giám sát thân nhiệt còn có biện pháp nào để kiểm soát dịch bệnh nữa không?

Ngoài giám sát thân nhiệt còn phải kê khai các yếu tố dịch tễ như đến từ vùng dịch và theo dõi các triệu chứng hô hấp; quản lý và cách ly các người đến từ vùng dịch, tiếp xúc người bệnh và nghi ngờ mắc bệnh. Thực hiện vệ sinh tay thường xuyên với xà phòng, vệ sinh hô hấp, vệ sinh nhà cửa và hạn chế tiếp xúc đông người để giảm nguy cơ lây nhiễm.

68. Những cách đo thân nhiệt nào thường được áp dụng trong phòng chống dịch và độ tin cậy của các phương pháp ấy như thế nào?

Đo thân nhiệt có thể dùng máy đo thân nhiệt từ xa, đo thân nhiệt qua da bằng nhiệt kế điện tử, nhiệt kế điện tử đo trán, tai. Tuy nhiên, các cách đo này chỉ để sàng lọc vì chúng có sai số nhất định. Các trường hợp nghi ngờ sốt cần được kiểm tra lại bằng nhiệt kế y tế để xác định.

69. Nếu không có nhiệt kế điện tử thì nên dùng nhiệt kế gì để giám sát thân nhiệt cho nhiều người và phải lưu ý vấn đề gì khi sử dụng loại nhiệt kế đó?

Nếu không có nhiệt kế điện tử thì có thể dùng nhiệt kế thủy ngân đo ở nách. Tuy nhiên đo cách này mất nhiều thời gian hơn và có nguy cơ lây nhiễm do tiếp xúc. Vì vậy, đảm bảo an toàn là cần sát khuẩn cồn sau mỗi lần đo trên một người; không đo nhiệt độ ở miệng vì tăng nguy cơ lây nhiễm.

70. Khi đo nhiệt độ ở trán bằng nhiệt kế điện tử, nhiệt độ bao nhiêu trở lên thì coi là bị sốt?

Trên 37 độ C thì được coi là sốt.

SỬ DỤNG KHẨU TRANG

71. Tại sao đeo khẩu trang có thể ngăn ngừa được bệnh lây nhiễm qua đường hô hấp?

Khẩu trang khi sử dụng đúng loại và đúng cách có tác dụng ngăn ngừa được các tác nhân gây bệnh từ đường hô hấp của người mang mầm bệnh phát tán ra không khí và từ không khí vào đường hô hấp của người chưa bị nhiễm bệnh. Hiệu quả phòng ngừa sẽ cao hơn khi cả người mang mầm bệnh và người không mang mầm bệnh cùng sử dụng khẩu trang.

72. Có bao nhiêu loại khẩu trang y tế, cấu tạo cơ bản và công dụng của mỗi loại?

Khẩu trang y tế có hai loại là khẩu trang ngoại khoa và khẩu trang có hiệu lực lọc cao.

Khẩu trang ngoại khoa chỉ ngăn ngừa được các giọt bắn có kích thước lớn từ 5µm trở lên và lây truyền trong phạm vi 1m khi ho, hắt hơi, hút đờm dãi…

Khẩu trang hoạt lực cao (N95, N96, N99…) ngăn ngừa lây truyền qua đường hô hấp qua các giọt nhỏ dưới 5µm.

73. Khi nào cần dùng khẩu trang y tế N95 để dự phòng lây nhiễm Covid-19?

Khi ở môi trường có nguy cơ tiếp xúc với các các giọt bắn nhỏ dưới 5µm bắn ra từ đường hô hấp của người mang mầm bệnh. Vì vậy, khẩu trang N95 được chỉ định cho nhân viên y tế và người nhà khi chăm sóc người bệnh có tiếp xúc trực tiếp trong vòng bán kính 2m để ngăn ngừa Covid-19 lây truyền qua đường không khí.

74. Đeo khẩu trang là để bảo vệ người chưa bị nhiễm hay bảo vệ người đã bị nhiễm Covid-19?

Đeo khẩu trang có tác dụng kép vừa để bảo vệ người chưa bị nhiễm và người đã bị nhiễm. Cả hai mục đích này đều quan trọng. Hiệu quả phòng ngừa sẽ cao hơn khi cả người mang mầm bệnh và người không mang mầm bệnh cùng sử dụng khẩu trang, đặc biệt là trong thời kỳ có dịch bệnh đường hô hấp như dịch Covid-19.

75. Tại sao người đã nhiễm Covid-19 vẫn cần phải đeo khẩu trang?

Người đã bị nhiễm vẫn cần đeo khẩu trang để bảo vệ tránh bị nhiễm thêm các mầm bệnh khác có thể làm cho bệnh nặng hơn, đồng thời ngăn phát tán virus ra môi trường bên ngoài làm lây cho người tiếp xúc hoặc lây gián tiếp qua các vật dụng như bàn tay, tay nắm cửa, dụng cụ sinh hoạt… để bảo vệ cộng đồng. Vì thế, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 quy định người mang mầm bệnh bắt buộc phải đeo khẩu trang. Hiện nay, ở nhiều nơi trên thế giới cũng như ở Việt Nam, kể cả không phải lúc có dịch bệnh, nhiều người đã có ý thức tự đeo khẩu trang khi đến nơi công cộng nếu họ bị ho, sốt, hắt hơi, sổ mũi để hạn chế nguy cơ lây lan bệnh đường hô hấp cho cộng đồng. Đây là hành động thể hiện trách nhiệm của các nhân với cộng đồng.

76. Vì sao nói khẩu trang y tế 3 lớp đã có thể ngăn cản hiệu quả lây nhiễm Covid-19?

Khẩu trang y tế 3 lớp có cấu tạo: Lớp ngoài cùng chống thấm, lớp giữa là màng lọc, lớp trong là lớp thấm nước. Khi sử dụng, không khí đi qua màng lọc và bị giữ lại các hạt nhỏ từ 90 – 95% các tác nhân gây bệnh. Nếu bị văng bắn giọt lớn vào mặt ngoài chúng sẽ bị rơi xuống đất nên nguy cơ hít vào mũi miệng người đeo là rất thấp, vì vậy đeo khẩu trang y tế 3 lớp đã có hiệu quả ngăn ngừa nhiễm Covid-19.

77. Đeo khẩu trang y tế như như nào là đúng cách?

Khi đeo đảm bảo tay sạch, luôn đeo mặt chống thấm ra ngoài, chỉnh thanh kim loại cho ôm sát mũi và quai đeo chắc chắn. Khẩu trang phải chùm kín được mũi, miệng. Không sờ tay vào mặt ngoài trong suốt quá trình sử dụng.

Khi tháo phải vệ sinh tay, dùng tay tháo dây đeo và chỉ cầm dây đeo bỏ vào thùng rác, không sờ vào mặt ngoài khẩu trang. Thời gian đeo khẩu trang dùng một lần khoảng 6 – 8 giờ.

78. Khi ở bên ngoài vùng có dịch có nhất thiết phải đeo khẩu trang không?

Khi ở ngoài vùng có dịch không có nghĩa là không có nguy cơ nhiễm mầm bệnh vì virus có thể phát tán từ người mang mầm bệnh không triệu chứng. Tuy nhiên, nguy cơ ấy khác nhau trong từng hoàn cảnh tiếp xúc, sinh hoạt khác nhau. Ví dụ: Người chỉ ở nhà không tiếp xúc với người bên ngoài có nguy cơ thấp hơn so với đến dự một sự kiện ở nơi công cộng có nhiều người không quen biết. Mọi người nên học cách đánh giá nguy cơ để đưa ra quyết định nên đeo khẩu trang hoặc chưa cần thiết phải đeo khẩu trang. Có như vậy sẽ tránh được tâm lý hoang mang, nhất là tâm lý đám đông, dẫn đến các tình trạng hoảng loạn, quá lo lắng vì đã “quên không đeo khẩu trang” hoặc đổ xô đi mua khẩu trang gây ra các hệ lụy không tốt cho xã hội về cung ứng khẩu trang y tế.

79. Khi nào cần đeo khẩu trang?

Người dân cần đeo khẩu trang y tế trong các trường hợp: Khi có các triệu chứng hô hấp như ho, khó thở; khi tiếp xúc, chăm sóc người nhiễm/nghi ngờ nhiễm Covid-19; khi chăm sóc hoặc tiếp xúc gần với người có triệu chứng ho, hắt hơi, chảy nước mũi, khó thở hoặc được chỉ định tự theo dõi, cách ly tại nhà hoặc khi đi khám tại cơ sở y tế.

80. Khẩu trang vải có tác dụng dự phòng lây nhiễm Covid-19 không?

Có. Tuy nhiên hiệu quả bảo vệ thấp hơn khẩu trang y tế và có thể khác nhau tùy theo cấu tạo và cách sử dụng (đặc biệt là vấn đề tái sử dụng ) của khẩu trang vải. Cần lưu ý thông tin từ nhà sản xuất xem khẩu trang vải định sử dụng có đáp ứng được các yêu cầu chất lượng của Bộ Y tế hay không.

RỬA TAY

81. Covid-19 là virus gây bệnh đường hô hấp, tại sao rửa tay lại hạn chế được lây nhiễm mầm bệnh?

Tay người là bộ phận tiếp xúc với các vật dụng xung quanh nhiều nhất (cầm, nắm, sờ…), do đó cũng có nguy cơ cao bị nhiễm tác nhân (có thể là vi khuẩn, virus…) từ các vật dụng. Khi cầm vật dụng để ăn uống, hay lau mặt, hay các động tác tương tự đưa lên mặt dễ làm tăng nguy cơ nhiễm Covid-19 (qua niêm mạc đường hô hấp, niêm mạc mắt…).

Rửa tay làm hạn chế, thậm chí loại bỏ các tác nhân trên tay bị ô nhiễm nên hạn chế được nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh nói chung và Covid-19 nói riêng.

82. Khi nào phải rửa tay để hạn chế lây nhiễm Covid-19?

Bất kỳ khi nào có nguy cơ ô nhiễm tay, nhất là sau khi lấy tay che mũi, miệng khi ho, hắt hơi; sau khi sờ, cầm, nắm vào các vật dụng xung quanh. Ở các vùng nghi ngờ có người mắc hay phải tiếp xúc với người nghi ngờ có triệu chứng như ho, hắt hơi, sốt… thì càng phải thực hiện biện pháp rửa tay thường xuyên hơn. Ngoài ra, nên rửa tay trước và sau khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi chế biến thực phẩm… Cần tập thói quen rửa tay thường xuyên, kể cả không phải khi đang có dịch Covid-19, để phòng chống nhiều loại bệnh lây truyền khác do tay bị ô nhiễm.

83. Phải rửa tay như như nào mới đúng để có thể hạn chế được sự lây nhiễm của Covid-19?

Rửa tay theo quy trình 6 bước của Bộ Y tế.

84. Vì sao phải rửa tay bằng xà phòng?

Rửa tay bằng nước sạch mới làm giảm tác nhân như vi khuẩn, virus… Xà phòng là một hợp chất chứa acid béo este hóa và hydroxit natri hoặc hydroxit kali có tính năng tẩy rửa. Nhờ chất tẩy rửa có trong thành phần cấu tạo mà xà phòng có tính năng làm sạch. Những chất tẩy rửa này có sức căng bề mặt lớn, có tác dụng loại bỏ chất bẩn, chất hữu cơ có trên bàn tay. Vì vậy, rửa tay bằng xà phòng làm giảm hơn nữa nguy cơ nhiễm Covid-19.

85. Vì sao khi rửa tay với xà phòng cần phải rửa tối thiểu trong 30 giây?

Vì đây là thời gian tối thiểu để thực hiện đủ 6 bước rửa tay thường quy. Mặt khác, muốn tăng hiệu quả sát trùng của xà phòng thì cần thời gian để hóa chất trong xà phòng tiêu diệt tác nhân gây bệnh trên tay.

86. Thế nào gọi là rửa tay khô?

Rửa tay khô là biện pháp sát trùng bàn tay bằng dung dịch rửa tay chuyên dụng mà không cần rửa lại bằng nước. Các dung dịch rửa tay khô thường chứa cồn, sau khi sát trùng tay cồn bay hơi nên tay khô trở lại mà không cần lau hoặc sấy.

87. Dung dịch rửa tay khô phải bảo đảm điều kiện gì mới có thể sử dụng để rửa tay khô phòng lây nhiễm Covid-19?

Tác nhân sát trùng chính trong dịch sát trùng tay (hay còn gọi là dung dịch rửa tay khô) là cồn. Vì vậy, theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế, dung dịch sát trùng tay phải có nồng độ cồn đạt từ 60% trở lên. Ngoài ra, cồn là dung dịch dễ bay hơi; để làm tăng thời gian tiếp xúc giữa cồn với các vi trùng có trên tay cần làm chậm quá trình bay hơi của cồn nên trong các dung dịch này thường được bổ sung các chất làm chậm bay hơi cồn như glycerin chứ không chỉ pha loãng cồn với nước.

88. Ngoài việc rửa tay sạch, cần thực hiện thêm thói quen gì với đôi tay để hạn chế lây nhiễm Covid-19?

Không cầm vào mặt trước cũng như mặt sau của khẩu trang đã sử dụng. Không đưa bàn tay lên mặt, nhất là dụi mắt, ngoáy mũi hay cắn móng tay. Hạn chế chạm tay vào các bề mặt có nguy cơ cao hoặc nghi ngờ ô nhiễm mầm bệnh.

VỆ SINH, DINH DƯỠNG

89. Tại sao phải vệ sinh môi trường để hạn chế lây nhiễm Covid-19?

Môi trường được xem như là “ngôi nhà” của các tác nhân gây bệnh. Vệ sinh môi trường sạch sẽ làm cho các tác nhân gây bệnh nói chung, virus Covid-19 nói riêng không có “nhà” ở, do đó hạn chế được lây nhiễm.

90. Cần vệ sinh môi trường như thế nào để hạn chế lây nhiễm Covid-19?

Môi trường cần sạch sẽ thông thoáng. Nếu có ánh nắng mặt trời chiếu vào sẽ có tác dụng tiêu diệt virus rất hiệu quả. Khi cần thiết, ngoài vệ sinh chung cần phun thuốc khử trùng để tiêu diệt virus Covid-19.

91. Cần vệ sinh nhà cửa như thế nào để hạn chế lây nhiễm Covid-19?

Nhà cửa (nhà ở, văn phòng…) là môi trường nơi con người sinh sống và làm việc cũng có nguy cơ ô nhiễm Covid-19. Do Covid-19 có trong không khí và đặc biệt là các bề mặt nên cần vệ sinh nhà cửa để giảm bớt nguy cơ ô nhiễm không khí và ô nhiễm bề mặt. Nên để nhà thoáng khí; hạn chế hoặc không sử dụng điều hòa vì làm không khí tù đọng trong nhà; nếu có điều kiện nên mở cửa để cho không khí lưu thông. Quét dọn, lau chùi nhà cửa thường xuyên. Đặc biệt, khi có ánh nắng mặt trời nên mở cửa để thông khí và cho ánh nắng mặt trời chiếu vào trong nhà có tác dụng tiêu diệt virus.

92. Những đồ vật nào cần phải vệ sinh thường xuyên để hạn chế lây nhiễm Covid-19?

Những đồ vật cần vệ sinh thường xuyên để hạn chế lây nhiễm Covid-19 là những đồ vật có nguy cơ ô nhiễm cao gồm các đồ vật nhiều người cùng sử dụng: Tay nắm cửa, nút bấm thang máy, tay vịn cầu thang, nút bấm điện thoại dùng chung, mặt bàn dùng chung… thậm chí cả tiền mặt luân chuyển giữa người này với người khác; các đồ vật của cá nhân nhưng tần suất tiếp xúc cao với bàn tay hay vùng mặt như điện thoại di động, bàn phím máy tính, mặt bàn làm việc…

93. Vệ sinh đồ vật và môi trường như thế nào là đúng cách?

Các đồ vật cần thường xuyên được lau rửa bằng các dung dịch sát trùng như xà phòng, dung dịch chứa cồn hay cloramin.

Với môi trường ngoài, các biện pháp vệ sinh sạch sẽ, thoát nước tốt, phát quang bụi rậm…; nếu nghi ngờ ô nhiễm thì cần phun khử trùng bằng dung dịch cloramin 0,2% Clo hoạt tính. Nếu ở nơi đã có bệnh nhân nghi mắc Covid-19 thì phun dung dịch chứa 0,5% Clo hoạt tính.

94. Chất tẩy rửa nào thường được sử dụng để vệ sinh đồ vật và môi trường dự phòng lây nhiễm Covid-19?

Các chất tẩy rửa chứa chất oxy hóa hay cồn mới có tác dụng tiêu diệt mầm bệnh này. Chất oxy hóa hay được dùng nhất hiện nay là cloramin.

95. Nên vệ sinh cá nhân như thế nào để đề phòng lây nhiễm Covid-19?

Để phòng lây nhiễm Covid-19, cần vệ sinh cá nhân tốt. Đây là biện pháp dự phòng không đặc hiệu. Vệ sinh cá nhân gồm:

– Vệ sinh bàn tay: Luôn giữ bàn tay sạch sẽ; rửa tay thường xuyên.

– Vệ sinh thân thể: Tắm rửa hàng ngày. Dù vào mùa đông, vẫn cần tắm rửa hàng ngày để loại bỏ các tác nhân gây bệnh có thể bám trên da.

– Vệ sinh quần áo: Quần áo là nơi tác nhân có thể bám vào (như nước bọt), vì vậy cần thay quần áo thường xuyên và giặt bằng xà phòng.

– Vệ sinh tóc: Tóc dài, tóc rối… là nơi có thể chứa mầm bệnh (qua nước bọt người bệnh). Vì vậy, nên cắt tóc ngắn, với nữ giới nên cuốn hoặc búi tóc gọn gàng, gội đầu hàng ngày để hạn chế tối đa mầm bệnh có thể bám trên tóc.

– Vệ sinh móng: Không để móng tay, móng chân dài. Móng tay, móng chân là nơi có thể chứa mầm bệnh Covid-19, do đó luôn cắt ngắn móng tay, chân và vệ sinh tay sạch sẽ để hạn chế mầm bệnh.

96. Nên vệ sinh mũi, họng như thế nào để đề phòng lây nhiễm Covid-19?

Niêm mạc mũi, họng là cửa ngõ tấn công của virus Covid-19, do đó cần bảo vệ, tránh làm tổn thương các tế bào niêm mạc mũi, họng vì các nguyên nhân khác sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm Covid-19. Các biện pháp vệ sinh mũi, vệ sinh răng miệng chung mặc dù không đặc hiệu nhưng cũng nên áp dụng để giữ cho mũi, họng trong trạng thái khỏe mạnh nhất, tránh viêm nhiễm ở khu vực này, không chỉ hạn chế lây nhiễm Covid-19 mà còn hạn chế lây nhiễm nhiều loại mầm bệnh khác.

97. Vì sao cần giữ ấm cơ thể để đề phòng lây nhiễm Covid-19?

Giữa ấm cơ thể giúp cho sức đề kháng chung của cơ thể được tốt hơn. Một số cơ quan khi bị lạnh có thể dẫn đến bị viêm nhiễm như viêm họng, viêm phế quản, viêm phổi… sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm Covid-19; đồng thời nếu bị nhiễm thêm Covid-19 sẽ có nguy cơ làm bệnh nặng hơn.

98. Nên duy trì chế độ ăn như thế nào để tăng sức đề kháng phòng chống Covid-19?

Không có chế độ ăn đặc hiệu để tăng sức đề kháng riêng với Covid-19.

Nên duy trì chế độ ăn hợp lý, đủ chất đinh dưỡng, có thể bổ sung vitamin để tăng sức đề kháng chung. Do chưa loại trừ khả năng lây qua thức ăn nên thực hiện “ăn chín uống sôi”. Tuyệt đối không ăn đồ ăn sống như tiết canh, thịt sống, đặc biệt là tiết canh, thịt sống của động vật hoang dã.

99. Ăn nhiều tỏi có tác dụng chống Covid-19 không?

Trong dân gian, sử dụng tỏi làm giảm triệu chứng hoặc làm nhẹ các bệnh cảm cúm thông thường. Tuy chưa chứng minh được tỏi có tác dụng chống Covid-19 nhưng cũng không có chống chỉ định sử dụng tỏi để tăng sức đề kháng chung.

100. Nên chuẩn bị tâm lý như thế nào để vượt qua đại dịch Covid-19?

Công tác tâm lý cần được chuẩn bị cả cho người đã bị nhiễm Covid-19 cũng như người chưa nhiễm; tâm lý cả cho cá nhân và cho cộng đồng.

Thực tế diễn biến dịch tại Trung Quốc cho thấy tỷ lệ tử vong Covid-19 thấp hơn so với SARS và MERS; các trường hợp bị bệnh bên ngoài Trung Quốc cũng hiếm có trường hợp tử vong; những người tử vong đa số là người bị nhiễm ngay từ Trung Quốc trước khi đi ra nước ngoài. Vì vậy, bệnh Covid-19 không nguy hiểm bằng SARS và MERS. Một trong các nguyên nhân khiến tỷ lệ tử vong ở Trung Quốc cao là do công tác tâm lý. Hiện nay, Trung Quốc đã thực hiện các biện pháp tâm lý cho cả cộng đồng bệnh nhân trong các cơ sở điều trị, cơ sở cách ly và đã đem lại hiệu quả rất tích cực. Vì vậy, mỗi cá nhân không nên chủ quan nhưng cũng không nên quá lo lắng về dịch bệnh.

Trên thực tế, các biện pháp phòng chống dịch Covid-19 của nước ta rất hiệu quả và đã được WHO ghi nhận. Với tinh thần “Chống dịch như chống giặc”, các biện pháp phòng chống dịch đã và đang được triển khai quyết liệt và đồng bộ từ trung ương đến các bộ ngành, địa phương trong cả nước. Chắc chắn chúng ta sớm kiểm soát được dịch Covid-19 và có thể Việt Nam – lần thứ hai sau dịch SARS – sẽ lại được thế giới biết đến chiến thắng trước dịch bệnh, đặc biệt nguy hiểm. Trên tinh thần đó, cộng đồng chúng ta tự tin, không hoang mang để tránh xảy ra các khủng hoảng xã hội vì dịch bệnh.

Hy vọng tài liệu này là một cẩm nang kiến thức thường thức để giúp mỗi người nâng cao ý thức để bảo vệ mình và trách nhiệm bảo vệ cộng đồng, cùng nhau chúng ta vượt qua đại dịch Covid-19.

Viet’s Post (Nguồn: Học viện Quân Y)
Trung tướng GS.TS.BS Đỗ Quyết, Trưởng ban Chỉ đạo biên soạn – Email: quyetdb@vmmu.edu.vn
Đại tá PGS.TS.BS Lê Văn Đông, Tổ trưởng Tổ Biên soạn – Email: levandong@vmmu.edu.vn

Xem bản PDF

Tại sao việc phát triển vắc xin cho vi rút corona lại khó khăn đến vậy?

Tính đến ngày 21 tháng 2, 2.250 người đã chết trên toàn thế giới vì vi rút corona, trong khi 18.862 người đã hồi phục và 55.703 người hiện đang bị nhiễm bệnh. Sau khi câu chuyện về vi rút corona trở thành những câu chuyện tin tức hàng đầu trong khoảng một tháng rưỡi, nhiều người có thể tự hỏi tại sao một loại vắc xin cho vi rút vẫn chưa được tạo ra. Tất nhiên, câu trả lời đơn giản là nó khó khăn. Vậy điều gì gây khó khăn?

Để bắt đầu trả lời câu hỏi này, chúng ta cần biết rằng vi rút đột biến rất nhanh. Vi rút corona được tạo thành từ axit ribo nucleic (RNA), và vì vật liệu di truyền này tồn tại dưới dạng một sợi đơn, không giống như DNA sợi kép có thể dễ dàng bị cắt và sửa chữa lại sau khi bị phá hủy từng đoạn. Điều này cho phép vi rút RNA biến đổi nhanh chóng, có nghĩa là bất kỳ phương pháp chữa trị hoặc vắc xin nào được tạo ra cho một vi rút RNA cụ thể có thể nhanh chóng trở nên lỗi thời. Mặc dù vắc xin đã hoạt động tốt trong việc ngăn chặn một số phiên bản vi rút nhất định. Sự tái phát của bệnh bại liệt ở một số quốc gia nhờ phiên bản đột biến mới miễn dịch với vắc xin trước đó là một ví dụ điển hình về việc ngăn chặn vi rút khó khăn ngay cả khi vắc xin đã được tạo ra.

Hơn thế nữa, vắc xin thường mất nhiều năm để tiếp cận thị trường vì chúng phải trải qua sáu bước phát triển bao gồm giai đoạn thử nghiệm lâm sàng ba giai đoạn. Điều này có nghĩa là, tại thời điểm một loại vắcxin hiệu quả đã được phát triển và được phê duyệt là sử dụng an toàn, vấn đề dịch bệnh có thể không còn ở trong trường hợp khẩn cấp nữa. Ngoài ra, nếu mức độ khẩn cấp giảm để phát triển vắc xin vì tỷ lệ lây nhiễm giảm nhờ các yếu tố khác, nghiên cứu về vắc xin có khả năng bị đình trệ và bị lãng quên, như những gì đã xảy ra với vắc xin cho bệnh SARS.

Thêm vào đó, trái với niềm tin phổ biến, tỷ suất lợi nhuận từ việc phát triển vắc xin không thú vị đối với hầu hết các công ty dược phẩm bằng việc phát triển các loại thuốc khác, như thuốc giảm đau. Brad Loncar, một nhà đầu tư công nghệ sinh học và giám đốc điều hành của Loncar Investments cho biết, việc phát triển thành công vắc xin phòng ngừa hoặc điều trị cho một cuộc khủng hoảng sức khỏe cộng đồng là rất khó. Nó thường tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc … Thông thường có rất ít tiền cho các công ty phát triển thành công một thứ gì đó, chứ không phải hàng tỷ mà một số nhà đầu tư lầm tưởng.”

Người ta cũng ít khuyến khích để phát triển vắc xin khi các loại thuốc hiện có được sử dụng để giải quyết các loại vi rút không gây đại dịch, với một số thành công, để giải quyết vi rút corona. Ví dụ, Remdesevir, một thuốc chống HIV của Gilead, đã được sử dụng với một số thành công trong điều trị bệnh nhân bị nhiễm vi rút corona, trong khi Kaletra, là sự kết hợp của hai loại thuốc chống HIV từ tập đoàn dược phẩm AbbVie hiện đang được thử nghiệm ở Trung Quốc.

Viet’s Post (Theo Singularity Hub)

Tại sao Covid-19 lây nhiễm với tốc độ cao và cách thức khác thường?

Tóm lược

Một nghiên cứu khoa học mới đây bởi các nhà khoa học ở Đại học Tôn Trung Sơn, Thâm Quyến, Quảng Đông, Trung Quốc đăng trên tạp chí Biochemical and Biophysical Research Communications ngày 17/2/2020 khi phân tích mô hình cấu trúc 3D của vùng tương tác giữa virus và tế bào vật chủ đã phần nào giải thích những câu hỏi lâu nay về tốc độ nhiễm bệnh, cách thức và vật chủ truyền bệnh, tỷ lệ tử vong, và chiến lược phát triển thuốc điều trị hiệu quả “đại dịch” Covid-19 được gây ra bởi 2019-nCoV, một loại coronavirus mới được xác định có độ tương đồng cao với SARS-CoV. Công bố này có vẻ chưa được truyền thông ở trong và ngoài nước chú ý nhiều, và mặc dù chỉ là nghiên cứu lý thuyết trên mô hình máy tính, kết quả nghiên cứu là rất đáng lưu tâm đối với cộng đồng khoa học và dân chúng.

Cụ thể, các tác giả đã thực hiện một phân tích cấu trúc của vùng liên kết thụ thể (receptor binding domain, RBD) của một loại spike glycoprotein chịu trách nhiệm cho sự xâm nhập của coronavirus vào tế bào chủ. Các RBD từ hai loại virus (2019-nCoV và SARS-CoV) chia sẻ 72% độ tương đồng trong các chuỗi axit amin và kết quả mô phỏng phân tử cho thấy các cấu trúc 3D rất giống nhau. Tuy nhiên, 2019-nCoV có một vòng lặp riêng biệt với các gốc glycyl linh hoạt thay thế cho các gốc prolyl cứng nhắc trong SARS-CoV. Kết quả từ phân tích mô hình hóa phân tử tiết lộ rằng RBD ở 2019-nCoV có tương tác mạnh hơn với enzyme chuyển đổi angiotensin 2 (ACE2). Có một phenylalanine F486 độc đáo trong vòng lặp linh hoạt này có khả năng đóng vai trò chính cho phép xâm nhập vào “túi” kỵ nước sâu trong phân tử ACE2. ACE2 được biểu hiện phổ biến với các cấu trúc chính được bảo tồn trên các ngành động vật từ cá, lưỡng cư, bò sát, chim, đến động vật có vú. Phân tích cấu trúc cho thấy rằng ACE2 từ những động vật này có khả năng liên kết RBD của 2019-nCoV, khiến chúng trở thành vật chủ tự nhiên tiềm năng cho virus. 2019-nCoV được cho là truyền qua các giọt hô hấp. Tuy nhiên, vì ACE2 được biểu hiện chủ yếu ở ruột, tinh hoàn và thận, cho nên virus nCoV có thể truyền qua đường tiêu hóa từ miệng và các đường lây truyền khác. Cuối cùng, các tác giả đề xuất phát triển các loại thuốc tiềm năng để chống lại virus này như các kháng thể và các chất ức chế phân tử nhỏ có thể ngăn chặn sự tương tác của ACE2 với RBD.

Chúng ta biết rằng các coronavirus thuộc về một họ virus lớn. Chúng có thể được phân thành bốn chi: Alpha-, Beta-, Gamma- và Delta coronavirus. Các alphacoronavirus đại diện bao gồm coronavirus NL63 (HCoV-NL63), trong khi các betacoronavirus bao gồm SARS-CoV và MERS-CoV gây các đại dịch nổi tiếng nhất gần đây. Dựa trên sự tương tự trình tự axit nucleic, 2019-nCoV được xác định là một betacoronavirus. Sự xâm nhập của tất cả các coronavirus vào tế bào chủ được trung gian bởi một loại spike glycoprotein mang lại cho coronavirus một hình dạng giống như vương miện bằng cách hình thành các gai trên bề mặt của chúng. Trình tự axit amin của phân tử glycoprotein này bao gồm một vùng ectodomain lớn, một vùng xuyên màng và một đuôi nội bào đầu C ngắn.

Virus 2019-nCoV có hệ gen tương đồng 80% với coronavirus gây bệnh SARS (SARS-CoV) được phân lập từ người bệnh hoặc con cầy hương, và tương đồng cao nhất khoảng 88% với một coronavirus tương tự tác nhân gây bệnh SARS nhưng được phân lập từ dơi. Trong toàn bộ bộ gen 29,903 bp của 2019-nCoV, vùng được bảo tồn ít nhất được mã hóa cho một loại spike glycoprotein với độ tương đồng là 74-83%. Spike glycoprotein hình thành gai trên bề mặt của coronavirus và chịu trách nhiệm cho sự xâm nhập của virus vào tế bào chủ. RBD trong phân tử glycoprotein liên kết trực tiếp các thụ thể trên bề mặt tế bào chủ. Trong trường hợp SARS-CoV và CoV tương tự SARS ở dơi, thụ thể là ACE2, một exopeptidase xúc tác sự chuyển đổi angiotensin I thành angiotensin1-9 hoặc chuyển đổi angiotensin II thành angiotensin1-7. Ở cấp độ protein, toàn bộ glycoprotein và RBD của 2019-nCoV chia sẻ lần lượt 76% và 72% trình tự tương ứng với SARS-CoV.

So sánh các cấu trúc đã biết của RBD từ SARS-CoV và tương tác với ACE2, từ đó suy ra các mô hình phân tử tương ứng cho 2019-nCoV

Kết quả mô phỏng cấu trúc phân tử RBD cho thấy các cấu trúc 3D của 2 virus này rất giống nhau. Tuy nhiên, 2019-nCoV có một vòng lặp riêng biệt với các gốc glycyl linh hoạt thay thế cho các gốc prolyl cứng nhắc trong SARS-CoV. Mô hình hóa phân tử tiết lộ rằng 2019-nCoV RBD có tương tác mạnh hơn với enzyme chuyển đổi angiotensin 2 (ACE2). Có một phenylalanine F486 độc đáo trong vòng lặp linh hoạt này có khả năng đóng vai trò chính cho phép xâm nhập vào “túi” kỵ nước sâu trong phân tử ACE2. ACE2 được biểu hiện phổ biến với các cấu trúc chính được bảo tồn trên các ngành động vật từ cá, lưỡng cư, bò sát, chim, đến động vật có vú. Cụ thể, khi so sánh ACE2 ở người với các đại diện tương ứng ở chim, thú (dơi, cầy hương) thấy tương đồng từ 81-83%, trong khi với đại diện từ bò sát (rắn), lưỡng cư (ếch) và cá có độ tương đồng 59-61%. Do đó, sẽ không có gì ngạc nhiên nếu bất kỳ động vật hoang dã nào trong số này được phát hiện là vật chủ trực tiếp hoặc trung gian của 2019-nCoV. Các coronavirus tương tự như SARS-CoV đã được tìm thấy ở nhiều loài dơi được coi là ổ chứa tự nhiên cho virus. Chúng cũng có thể là vật chủ cho 2019-nCoV. Tuy nhiên, khả năng những động vật máu lạnh như rắn có thể phục vụ như một vật chủ không thể loại trừ. Vùng tương tác linh hoạt được xác định trong nghiên cứu của các tác giả cho thấy có thể cho phép vi rút thích nghi với cả vật chủ máu lạnh và máu nóng.

Chúng ta cũng đã biết 2019-nCoV được cho là truyền qua các giọt hô hấp. Tuy nhiên, ACE2 được biểu hiện rất thấp ở phổi. Điều này giải thích phần nào tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân mắc 2019-nCoV thấp hơn nhiều so với SARS và các bệnh trước đây do coronavirus gây ra. Trong khi đó ACE2 được biểu hiện chủ yếu ở ruột, tinh hoàn và thận, cho nên virus nCoV có thể truyền qua đường tiêu hóa từ miệng đến hậu môn và các đường lây truyền khác. Điều này đã có một vài minh chứng được công bố trước đây. Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng triệu chứng tiêu chảy đã có mặt ở 70% bệnh nhân bị nhiễm SARS-CoV. Quan trọng hơn, một báo cáo gần đây đã chứng minh sự hiện diện của 2019-nCoV trong phân của bệnh nhân bị tiêu chảy khởi phát. Mặc dù phát hiện này đã được ghi nhận trong các báo cáo khác, các xét nghiệm phân và mẫu nước tiểu cho chẩn đoán 2019-nCoV cần được quan tâm, điều này có thể giúp tiết lộ các con đường lây truyền virus khác.

Cuối cùng, các tác giả đề xuất phát triển các loại thuốc tiềm năng để chống lại virus này như các kháng thể và các chất ức chế phân tử nhỏ có thể ngăn chặn sự tương tác của ACE2 với RBD. Điều này dựa trên việc vi rút liên kết với thụ thể RBD cụ thể sẽ quyết định liệu một tế bào hoặc động vật có thể bị nhiễm bệnh hay không và cũng là mục tiêu cho các phát minh trị liệu để điều trị các bệnh do coronavirus gây ra. Bằng cách liên kết trực tiếp với ACE2 trên bề mặt tế bào chủ, các spike glycoprotein đóng vai trò thiết yếu trong việc nhiễm virus. Một cách rõ ràng để ngăn chặn sự lây nhiễm virus là chặn tương tác RBD và ACE2. Điều này có thể đạt được bằng cách sử dụng kháng thể hoặc các chất ức chế phân tử nhỏ. Đương nhiên, các kháng thể và chất ức chế có thể phá vỡ sự tương tác của RBD với ACE2 có tầm quan trọng trong điều trị. Bằng cách sử dụng phương pháp ghép phân tử, một nghiên cứu trước đó đã xác định N- (2-aminoethyl) -1 aziridine-ethanamine là một chất ức chế ACE2 mới ngăn chặn hiệu quả phản ứng dung hợp tế bào với vi rút qua trung gian RBD. Điều này gợi ý một ứng cử viên tiềm năng và là chất chủ lực để phát triển thuốc điều trị. Trong khi đó, các xét nghiệm sinh hóa và tế bào có thể được thiết lập để sàng lọc các thư viện hợp chất hóa học để xác định các chất ức chế mới. Mặt khác, nhiều chất ức chế enzyme hiện đang được sử dụng để điều trị tăng huyết áp và các bệnh tim mạch khác. Trong số đó có captopril, perindopril, ramipril, lisinopril, benazepril và moexipril. Mặc dù các loại thuốc này chủ yếu nhắm mục tiêu vào ACE, một chất tương đồng của ACE2 với độ tương đồng trình tự 42% và độ tương tự trình tự 61% ở vùng trung tâm xúc tác, nhưng chúng cũng có thể có hiệu quả đối với ACE2. Cần lưu ý rằng các chất ức chế enzyme liên kết với trung tâm xúc tác hơn là vị trí gắn RBD. Tuy nhiên, các chất ức chế enzyme này có thể gián tiếp thay đổi cấu trúc của vị trí gắn RBD và do đó ảnh hưởng đến sự tương tác của ACE2 với RBD. Việc kiểm tra các loại thuốc này về khả năng ngăn chặn tương tác RBD / ACE2 là rất đáng giá, cần được tiếp tục nghiên cứu.

Viet’s Post lược dịch lần đầu từ Biochemical and Biophysical Research Communications

Nghiên cứu mới nhất về đặc điểm lâm sàng của bệnh hô hấp cấp tính do nCoV ở hơn 1000 bệnh nhân Trung Quốc

Kể từ tháng 12 năm 2019, bệnh hô hấp cấp tính (ARD) do coronavirus mới 2019 (2019-nCoV) xuất hiện ở thành phố Vũ Hán và nhanh chóng lan rộng khắp Trung Quốc. Ngày 9/2/2020, các nhà khoa học Trung Quốc đã công bố nghiên cứu mới nhất về các đặc điểm lâm sàng của những trường hợp mắc bệnh này.

Nghiên cứu đã trích xuất dữ liệu trên 1.099 bệnh nhân mắc ARD 2019-nCoV được xác nhận trong phòng thí nghiệm từ 552 bệnh viện ở 31 tỉnh / thành phố tỉnh cho đến ngày 29 tháng 1 năm 2020.

Kết quả cho thấy tuổi trung bình là 47,0 và 41,90% là nữ. Chỉ có 1,18% bệnh nhân có tiếp xúc trực tiếp với động vật hoang dã, trong khi 31,30% đã đến Vũ Hán và 71,80% đã tiếp xúc với những người từ Vũ Hán.

Sốt (87,9%) và ho (67,7%) là những triệu chứng phổ biến nhất. Tiêu chảy là không phổ biến.

Đáng lưu ý thời gian ủ bệnh trung bình là 3,0 ngày nhưng có phạm vi rộng từ 0 đến 24,0 ngày.

Khi nhập viện, phát hiện X quang điển hình có độ kính mờ trên ảnh chụp cắt lớp vi tính lồng ngực (50%).

Các trường hợp nghiêm trọng hơn được chẩn đoán bằng các triệu chứng kết hợp với kỹ thuật sinh học phân tử RT-PCR (phản ứng chuỗi trùng hợp phiên mã ngược) mà không phát hiện X quang bất thường so với các trường hợp không nặng (23,87% so với 5,20%, P <0,001).

Ở 82,1% bệnh nhân có quan sát thấy hiện tượng giảm bạch huyết. 55 bệnh nhân (5,00%) được đưa vào khoa chăm sóc đặc biệt và 15 (1,36%) bị chết.

Ngoài ra, kết quả từ mô hình rủi ro cạnh tranh đa biến cũng cho thấy viêm phổi nặng có liên quan độc lập với việc nhập viện vào khoa chăm sóc đặc biệt, thở máy hoặc tử vong (tỷ lệ rủi ro phân phối phụ, 9,80; khoảng tin cậy 95%, 4,06 đến 23,67).

Các tác giả kết luận rằng dịch bệnh 2019-nCoV lây lan nhanh chóng do lây truyền từ người sang người. Phát hiện X quang bình thường có mặt trong số một số bệnh nhân bị nhiễm 2019-nCoV. Mức độ nghiêm trọng của bệnh (bao gồm độ bão hòa oxy, nhịp hô hấp, số lượng bạch cầu / tế bào lympho trong máu và các biểu hiện X-quang / CT lồng ngực) cho kết quả dự đoán lâm sàng kém.

Viet’s Post tổng hợp từ Medrxiv

Dơi, rắn hay tê tê đã truyền virus corona mới cho người?

Có phải dơi đã truyền 2019-nCoV cho người?

Tại sao dơi có thể là nguồn chứa Arbovirus bao gồm coronavirus (CoV)?

Dơi được biết đến là nơi trú ngụ và truyền nhiều loại virus mới nổi và tái phát, nhiều loại trong số đó gây bệnh cực kỳ nguy hiểm ở người nhưng không gây bệnh lý nghiêm trọng ở vật chủ dơi: henipavirus (Nipah và Hendra), filovirus (Ebola và Marburg), và coronavirus (SARS-CoV và MERS-CoV). Các chu kỳ lây truyền trực tiếp thường liên quan đến những đợt bùng phát này, với virus bị thải ra trong phân dơi, nước tiểu và nước bọt.

Một phương thức lây truyền virus bổ sung giữa dơi và người cần thăm dò thêm là sự lây lan của bệnh thông qua các vec tơ động vật. Mặc dù các ổ sinh thái của dơi chứa nhiều động vật chân đốt hút máu (ví dụ: muỗi, ve, bọ cắn, v.v.), chúng được biết là đóng vai trò nhất định trong việc truyền các arbovirus quan trọng về mặt y tế, nhưng chúng ta còn biết rất hạn chế về mối quan hệ giữa dơi và virus.

Các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục tìm hiểu dơi hoạt động thế nào như một ổ chứa virus được truyền thông qua động vật chân đốt hút máu. Việc kiểm tra huyết thanh và phân lập virus từ dơi sống tự do hoặc dơi nuôi nhốt đã khám phá ra bốn nhóm arbovirus (Bunyavirales, Flaviviridae, Reoviridae, Togaviridae). Hơn nữa, các mối liên hệ sinh thái giữa dơi và động vật hút máu mang virus đã được mô tả, ví dụ, máu dơi trong muỗi, nuốt muỗi bởi dơi, v.v..

Cuối cùng, vẫn còn các lỗ hổng kiến thức liên quan đến các ngoại ký sinh trùng hút máu như bọ dơi, bọ giường (Cimicidae) và ruồi dơi (Nycteribiidae và Streblidae), đồng thời cần tiếp tục các hướng nghiên cứu phát hiện trong tương lai về đặc điểm của mối quan hệ giữa virus và dơi.

Đặc biệt đối với nhóm coronavirus, dơi cũng được suy đoán là ổ chứa một số loại virus mới nổi bao gồm cả coronavirus (CoV) gây bệnh nghiêm trọng ở người và động vật nông nghiệp. Chúng bao gồm CoV gây ra hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS), hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS), dịch tiêu chảy lợn (PED) và hội chứng tiêu chảy cấp tính nặng (SADS). Dơi bị nhiễm bệnh tự nhiên hoặc nhiễm bệnh thực nghiệm đã không cho thấy các dấu hiệu lâm sàng của bệnh. Những quan sát này đã cho phép các nhà nghiên cứu suy đoán rằng dơi là ổ chứa tiềm năng hoặc vật chủ tổ tiên cho một số CoV.

Dơi có hệ thống miễn dịch độc đáo giúp cho virus tồn tại và truyền nhiễm?

Các nhà khoa học đã theo dõi các đợt bùng phát CoV được suy đoán là có nguồn gốc từ loài dơi. Điều này đã cho phép các nhà nghiên cứu xác định sự thích nghi độc đáo ở loài dơi có thể cho phép chúng nuôi dưỡng CoV mà không bị bệnh nặng. Họ suy đoán về các nghiên cứu trong tương lai rất quan trọng để xác định làm thế nào dơi có thể chứa nhiều chủng CoV và các yếu tố cho phép các virus này nhảy ra từ dơi đến các động vật có vú khác.

Dơi chứa vô số virus và một số virus này có thể đã nhiễm sang các loài khác bao gồm cả con người. Các sự kiện truyền nhiễm là rất hiếm và một số yếu tố phải liên kết để tạo ra các đại dịch. Một trong những yếu tố này là sự gia tăng virus của dơi. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng dơi có cơ chế phòng vệ độc đáo cho phép chúng bị nhiễm virus dai dẳng hoặc lây muộn. Các yếu tố dẫn đến sự gia tăng truyền nhiễm virus ở các cá thể dơi liên tục bị nhiễm sẽ tạo điều kiện cho virus phát tán khắp quần thể dơi. Điểm độc đáo là dơi có một hệ thống phòng thủ miễn dịch cho phép điều chỉnh sự nhân lên của virus và có các cơ chế phân tử khác nhau có vai trò trong việc thay đổi mối quan hệ giữa virus và dơi một cách cân bằng, từ đó giúp truyền nhiễm virus ở dơi một cách ổn định.

Dịch bệnh lần này bắt đầu từ Coronavirus ở dơi tại Trung Quốc?

Trong hai thập kỷ qua, ba loại coronavirus động vật đã được xác định là nguyên nhân gây ra dịch bệnh quy mô lớn bao gồm Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS), Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS) và Hội chứng tiêu chảy cấp tính ở lợn (SADS). SARS và MERS lần lượt xuất hiện vào năm 2003 và 2012 và gây ra đại dịch toàn cầu cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người, trong khi SADS tấn công ngành chăn nuôi lợn vào năm 2017. Chúng có những đặc điểm chung, như chúng đều gây bệnh cho người hoặc gia súc. Các tác nhân có nguồn gốc từ dơi, và hai trong số chúng có nguồn gốc từ Trung Quốc. Do đó, rất có khả năng các đợt bùng phát coronavirus trong tương lai của SARS hoặc MERS sẽ bắt nguồn từ dơi, và có nhiều khả năng điều này sẽ xảy ra ở Trung Quốc. Do đó, việc điều tra coronavirus ở dơi trở thành một vấn đề cấp bách để phát hiện các dấu hiệu cảnh báo sớm, từ đó giảm thiểu tác động của những đợt bùng phát trong tương lai như vậy ở Trung Quốc. Những chủ đề chính cần quan tâm là sự đa dạng của virus, vật chủ chứa và sự phân bố địa lý của coronavirus ở dơi tại Trung Quốc, và dự đoán các điểm nóng virus và khả năng lây truyền chéo của chúng.

Cho đến khả năng coronavirus ở dơi lây nhiễm ra toàn cầu?

Dơi là một nhóm động vật có vú độc nhất của Bộ Chiroptera. Chúng rất đa dạng và là nhóm động vật có vú có số lượng loài lớn thứ hai. Các loại tế bào và thụ thể của chúng rất đa dạng đến mức có thể tạo điều kiện cho chúng trở thành vật chủ tiềm năng của nhiều loại virus. Dơi là nhóm động vật có vú duy nhất có khả năng bay ổn định, cho phép chúng phát tán các loại virus mà chúng chứa chấp và tăng cường cơ hội lây truyền giữa các loài.

Trước khi dịch SARS, dơi không được biết đến là vật chủ của CoV. Trong 15 năm qua, dơi đã được tìm thấy là vật chủ của trên 30 loại CoV với bộ gen hoàn chỉnh được giải trình tự và nhiều hơn nữa nếu tính cả những loại CoV chưa được giải trình tự bộ gen. Trong số bốn chi CoV, chỉ có alphaCoV và betaCoV được tìm thấy ở dơi. Nhìn chung, cả alphaCoV và betaCoV đã được phát hiện từ dơi ở Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Bắc Mỹ, Nam Mỹ và Châu Úc; nhưng alphaCoV dường như phổ biến hơn so với betaCoV và tỷ lệ phát hiện của chúng cũng cao hơn. Đối với betaCoV, chỉ có các dưới chi Sarbecovirus, Merbecovirus, Nobecovirus và Hibecovirus đã được phát hiện trên dơi. Đáng chú ý nhất, dơi móng ngựa là ổ chứa SARS-CoV và một số betaCoV thuộc dưới chi Merbecovirus có liên quan chặt chẽ với MERS-CoV. Ngoài sự tương tác giữa các loài dơi khác nhau, sự tương tác giữa dơi và động vật, dơi và con người (chẳng hạn như sự hiện diện của dơi còn sống ở các chợ và nhà hàng ẩm ướt ở miền Nam Trung Quốc), là rất quan trọng đối với việc truyền CoV giữa các loài và có thể dẫn đến bùng phát lây nhiễm trên toàn cầu.

Rắn hay dơi đã truyền 2019-nCoV sang người?: Những bằng chứng di truyền

Rắn đã truyền 2019-nCoV sang người?

Sự bùng phát bệnh viêm phổi do virus hiện nay ở thành phố Vũ Hán, Trung Quốc, là do một loại coronavirus mới được đặt tên là 2019-nCoV bởi Tổ chức Y tế Thế giới, được xác định bằng cách giải mã bộ gen RNA của virus. Nhiều bệnh nhân có khả năng tiếp xúc với động vật hoang dã tại chợ bán buôn hải sản Vũ Hán, nơi gia cầm, rắn, dơi và các động vật nuôi khác cũng được bán. Để xác định vật chứa virus tiềm năng, Ji và cộng sự từ Trường Đại học Bắc Kinh đã tiến hành phân tích và so sánh trình tự hệ gen của các chủng coronavirus mới (2019-nCoV).

Kết quả thu được từ các phân tích này được công bố vào ngày 22/1/2020 cho thấy rằng 2019-nCoV dường như là một virus tái tổ hợp giữa coronavirus ở dơi và một coronavirus không rõ nguồn gốc. Sự tái tổ hợp xảy ra trong glycoprotein của virus, giúp nhận biết thụ thể bề mặt tế bào. Ngoài ra, các phát hiện mới còn cho thấy rắn là ổ chứa động vật hoang dã có xác suất cao nhất cho 2019-nCoV dựa trên sự tương đồng trình tự gen mã hóa giống với ở rắn hơn so với ở các động vật khác. Từ đó, nhóm nghiên cứu cho rằng tái tổ hợp tương đồng trong glycoprotein tăng đột biến có thể góp phần làm cho virus truyền chéo giữa các loài từ rắn sang người.

Dơi đã truyền 2019-nCoV sang người?

Chỉ một tuần ngay sau công bố trên, vào ngày 29/1/2020, phân tích của các nhà di truyền học tại Đại học Quốc gia Hy Lạp về hệ gen của 2019-nCoV so với corona ở dơi (BatCoV RaTG13) cho thấy mức độ tương đồng di truyền giữa 2 virus này là 96,3%, trong đó BatCoV từ dơi không cung cấp biến thể chính xác gây ra sự bùng phát ở người, còn 2019-nCoV gây bệnh ở người rất có thể có nguồn gốc từ dơi. Các bằng chứng cũng cho thấy hệ gen của 2019-nCov không phải là khảm, bao gồm gần một nửa bộ gen của một dòng khác biệt trong nhóm betaCoV. Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn cần tiếp tục nghiên cứu những đặc điểm bộ gen và mối liên hệ tiềm năng của chúng với đặc điểm virus và độc lực ở người.

Hay là tê tê? – Một nghi phạm tiềm năng trong việc truyền nhiễm 2019-nCoV cho người

Từ rắn đến tê tê?

Mặc dù công bố của một số nhà khoa học bị mất uy tín trước đó khi đã chỉ ra rắn là một nghi phạm tiềm năng nhưng hiện vẫn không có căn cứ để cho rằng nhiều loài ứng cử viên trong thị trường động vật hoang dã Vũ Hán có thể gây ra dịch bệnh này.

Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã tiếp tục điều tra nguồn gốc động vật của dịch coronavirus gây chết người ở Trung Quốc và công bố vào ngày 6/2/2020 rằng loài tê tê đang bị đe dọa có thể là “mối liên kết bị mất” giữa dơi và người, nhưng các nhà khoa học khác cho biết việc tìm kiếm có thể chưa kết thúc.

Sự bùng phát SARS vào năm 2002-3, liên quan đến một chủng coronavirus khác, đã được lây truyền từ con cầy hương, một loài thú nhỏ bị săn lùng làm thực phẩm ở Trung Quốc.

Thiếu manh mối: có phải là tê tê?

Nhiều động vật có khả năng truyền virus cho các loài khác và gần như tất cả các chủng coronavirus truyền nhiễm cho người có nguồn gốc từ động vật hoang dã.
Dơi được cho có thể là loài mang mầm bệnh mới nhất, đã lây nhiễm ít nhất 34.878 người và giết chết hơn 724 người trên toàn thế giới, chủ yếu ở Trung Quốc nơi dịch bệnh bắt nguồn.

Như đã phân tích ở trên, một nghiên cứu di truyền gần đây cho thấy chủng virus hiện đang lây lan ở người giống hệt 96% với loài dơi được tìm thấy.
Nhưng theo Arnaud Fontanet, từ Viện Pasteur của Pháp, căn bệnh này có khả năng không chuyển thẳng từ dơi sang người. “Chúng tôi nghĩ rằng có một động vật khác là trung gian”, ông nói với AFP.

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng virus từ dơi thiếu bộ phận cần thiết để bám vào các thụ thể tế bào của con người. Nhưng vẫn chưa rõ động vật nào là manh mối bị thiếu.
Fontanet tin rằng vật trung gian “có lẽ là động vật có vú”, có thể thuộc về họ lửng.

Sau khi thử nghiệm hơn 1.000 mẫu từ động vật hoang dã, các nhà khoa học tại Đại học Nông nghiệp Nam Trung Quốc đã tìm thấy trình tự bộ gen của virus trong tê tê giống hệt 99% so với các bệnh nhân coronavirus, hãng tin Tân Hoa Xã đưa tin.

Nhưng các chuyên gia khác kêu gọi cần thận trọng.
“Đây không phải là bằng chứng khoa học”, James Wood, Trưởng khoa Thú y tại Đại học Cambridge, nói. “Các cuộc khảo sát tại các khu hệ động vật là vô cùng quan trọng, nhưng kết quả phải được công bố để thế giới đánh giá.”
“Đơn giản chỉ cần báo cáo phát hiện RNA virus với độ tương đồng 99% là không đủ”, ông nói thêm.

Sự tìm kiếm vô vọng?

Để xác định cụ thể thủ phạm, các nhà nghiên cứu sẽ cần kiểm tra từng loài được bán trên thị trường – một điều gần như không thể vì hiện tại nó đã bị cấm vĩnh viễn.
Martine Peeters, một nhà virus học tại Viện Nghiên cứu và Phát triển (IRD) của Pháp, đã làm việc trong nhóm xác định động vật chủ của virus Ebola trong các dịch bệnh gần đây.

Họ phát hiện ra rằng đó thực sự là một con dơi truyền virus cho con người và Peeters tin rằng đó có thể là trường hợp xảy ra trong thời gian này.
Trong nghiên cứu về Ebola của cô, “chúng tôi đã thu thập hàng ngàn con dơi từ một số địa điểm ở Châu Phi”, Peeters nói với AFP.
Fontanet nói rằng các nhà nghiên cứu Trung Quốc cũng đang làm như vậy.
“Họ nói rằng họ đã phân tích các mẫu từ một chiếc xe tải rác”, ông nói. “Họ không nói điều đó, nhưng tôi nghĩ có khả năng đó là phân có ở xung quanh.”

Tại sao nó quan trọng?

Mặc dù có thể là quá muộn cho đợt bùng phát này, việc xác định động vật mang mầm bệnh cho coronavirus mới có thể chứng minh sự sống còn trong việc ngăn chặn các đợt bùng phát trong tương lai.
Ví dụ, ở Trung Quốc, cầy hương bị cấm bán để lấy thực phẩm sau đại dịch SARS.

Eric Leroy, một nhà virus học và bác sĩ thú y tại IRD cho biết việc tìm kiếm cũng có thể mang lại kết quả nhanh chóng như trong trường hợp SARS hoặc nó có thể mất nhiều năm.
“Với Ebola, nghiên cứu bắt đầu vào năm 1976 và chúng tôi không thấy kết quả đầu tiên được công bố cho đến năm 2005”, ông nói với AFP.

Một yếu tố quyết định có thể là tỷ lệ phần trăm tương đồng với loài bị nhiễm bệnh.
Leroy nói: “Nếu đó là thấp, ít hơn một phần trăm chẳng hạn, điều đó rõ ràng sẽ làm giảm khả năng bạn bị nhiễm bệnh từ con vật đó”.

Ngăn chặn dịch bệnh trong tương lai?

Đối với Fontanet, coronavirus chỉ là ví dụ mới nhất về hậu quả tai hại tiềm tàng của việc con người tiêu thụ động vật hoang dã mang virus.
Ông nói rằng Trung Quốc cần phải “thực hiện các biện pháp khá triệt để chống lại việc bán động vật hoang dã ở các chợ”.

Bắc Kinh đã cấm hành vi này, nhưng chỉ chuyển sang làm vào tháng trước, khi dịch bệnh đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
“Mỗi lần, chúng ta cố gắng dập lửa, và một khi nó bùng cháy ra ngoài, chúng ta chờ đợi đợt cháy tiếp theo”, Francois Renaud, nhà nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia có trụ sở tại Paris cho biết.

Ông đề nghị lập một danh sách theo dõi tất cả các loài động vật có khả năng truyền virus cho người.
“Bạn cần phải xem dịch bệnh trước khi chúng đến, và do đó bạn cần phải chủ động”, ông nói.

Công việc tiếp tục?

Đáng chú ý có một nghiên cứu của các nhà khoa học từ Viện Công nghệ Ấn Độ được công bố sớm (chưa được phản biện khoa học) trên BioRxiv vào ngày 31/1/2020.

Nhóm tác giả đã chỉ ra hệ gen nCoV rất giống với coronavirus từ dơi, ngoại trừ có 4 đoạn chèn “có vẻ nhân tạo” trong trình tự glycoprotein của hệ gen mà kết hợp lại có thể mã hóa vị trí liên kết thụ thể của protein ở virus HIV, điều này giúp cho chúng dễ lây nhiễm sang người. Điều này làm tăng nghi ngờ về một loại “vũ khí sinh học” bị rò rỉ từ Vũ Hán, Trung Quốc. Hơn nữa, một số nước như Thái Lan và Nga đã công bố một số thuốc chữa HIV có thể giúp hỗ trợ điều trị nCoV, và việc săn lùng các loại thuốc này ở Trung Quốc cũng được báo chí đăng tải trong các tuần qua. Mặc dù những điều trên có thể không liên quan với nhau về mặt khoa học, người ta vẫn có thể đưa ra những dự đoán của riêng mình.

Hiện nay bản thân tác giả của bài báo trên đã rút công bố khỏi trang web tạp chí để chỉnh sửa lại do cần xem lại cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và do có những tranh luận trong giới nghiên cứu.

Những điều này cho thấy chỉ có các bằng chứng di truyền là chưa đủ để kết luận và còn nhiều tranh cãi về con đường lây truyền của nCoV.

Trong khi đó, các nghiên cứu giải trình tự toàn bộ hệ gen của nCoV vẫn đang tiếp tục được công bố với các chủng khác nhau. Kết quả hiện tại cho thấy các trình tự hệ gen nCoV giống nhau đến trên 99%, giống SARS trên 98% và giống coronavirus từ dơi trên 96%. Điều này giúp cho việc tiếp tục xác định nguồn gốc virus, phương thức truyền bệnh, phát triển các bộ kít chẩn đoán, xác định các đích của thuốc, và nghiên cứu phát triển các vắc xin phòng trị bệnh.

Viet’s Post đăng lần đầu và tổng hợp từ nhiều nguồn (ScienceAlert, MDPI, NCBI, BioRxiv)

Tin liên quan

[feedzy-rss feeds=”tin-tong-hop” max=”4″ feed_title=”yes” keywords_title=”tê tê, Tê tê” size=”150″ meta=”date” sort=”date_desc” refresh=”15_days” summary=”no” thumb=”auto” size=”75″ columns=”2″ template=”default” error_empty=” “]
[feedzy-rss feeds=”science” max=”4″ feed_title=”yes” keywords_title=”pangolin, Pangolin” size=”150″ meta=”date” sort=”date_desc” refresh=”15_days” summary=”no” thumb=”auto” size=”75″ columns=”2″ template=”default” error_empty=”Sự kiện này đã kết thúc hoặc chủ đề này không còn được quan tâm”]

Phương pháp nào để điều trị nhiễm vi rút corona mới (2019-nCoV)?

Số trường hợp xác nhận nhiễm coronavirus mới 2019 (2019-nCoV) được báo cáo cho Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) vẫn tiếp tục gia tăng trên toàn thế giới [1]. Giống như hai loại coronavirus ưu tiên khác của WHO là SARS-CoV [2] và MERS-CoV [3], vi rút 2019-nCoV cũng gây tử vong. Tính đến ngày 3 tháng 2 năm 2020, 2019-nCoV đã gây ra 362 trường hợp tử vong trong số 17 391 trường hợp được xác nhận và báo cáo cho WHO [1]. Hiện vẫn chưa có phương pháp điều trị chống vi rút cụ thể nào. Hạn chế chính trong quản lý lâm sàng chủ yếu vẫn là điều trị triệu chứng, với sự tác động hỗ trợ vào cơ quan đích, nhằm chăm sóc tích cực cho bệnh nhân bị bệnh nặng.

Hoạt động chưa từng có của WHO và các cơ quan y tế công cộng toàn cầu khác chủ yếu tập trung vào việc ngăn ngừa lây truyền, các biện pháp kiểm soát nhiễm trùng và sàng lọc du khách. Việc phát triển vắc xin đã nhận được tài trợ ngay lập tức; tuy nhiên, giống như với SARS-CoV và MERS-CoV, việc hỗ trợ phát triển các phương pháp điều trị cho 2019-nCoV nhằm giúp giảm tỷ lệ tử vong đã không được đưa ra. Lúc này nhu cầu cấp thiết là cần tập trung tài trợ và đầu tư nghiên cứu khoa học vào việc thúc đẩy các can thiệp trị liệu mới trong điều trị nhiễm coronavirus.

Tất cả ba loại coronavirus gây ra phản ứng miễn dịch của vật chủ không hiệu quả và bất thường này đều có liên quan đến bệnh lý phổi nghiêm trọng, dẫn đến tử vong [2,3,4]. Tương tự như bệnh nhân mắc SARS-CoV và MERS-CoV, một số bệnh nhân mắc 2019-nCoV phát triển hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS) với thay đổi hình ảnh đặc trưng của phổi (kính mờ) khi chụp cắt lớp vi tính lồng ngực. Ở hầu hết các bệnh nhân đã chết, nhiễm vi rút 2019-nCoV cũng liên quan đến một “cơn bão cytokine”, được đặc trưng bởi sự gia tăng nồng độ trong huyết tương của các interleukin 2, 7 và 10, yếu tố kích thích bạch cầu hạt, protein cảm ứng interferon-protein 10, protein đơn bào 1, protein viêm đại thực bào 1 alpha và yếu tố hoại tử khối u α [2,3,4,5,6]. (Một “cơn bão cytokine” là sự sản xuất quá mức của các tế bào miễn dịch và các hợp chất kích hoạt của chúng (cytokine), trong nhiễm trùng cúm, thường liên quan đến sự gia tăng các tế bào miễn dịch được kích hoạt vào phổi). Ở những người sống sót trong điều trị tích cực, những phản ứng miễn dịch và phản ứng miễn dịch quá mức dẫn đến tổn thương phổi và xơ hóa lâu dài, gây ra khuyết tật chức năng và làm giảm chất lượng cuộc sống [7,8].

Sẽ cần mất vài năm để phát triển và đánh giá các loại thuốc cụ thể cho điều trị 2019-nCoV. Trong khi đó, một loạt các liệu pháp điều trị theo định hướng vật chủ (người) hiện tại đã được chứng minh là an toàn [9, 10, 11] có thể được sử dụng để điều trị nhiễm trùng 2019-nCoV. Ví dụ, một số loại thuốc bán trên thị trường có hồ sơ an toàn tuyệt vời như metformin, glitazone, fibrate, sartans và atorvastin, cũng như các chất dinh dưỡng bổ sung và sinh phẩm y tế có thể làm giảm miễn dịch, tăng cường đáp ứng miễn dịch và ngăn chặn hoặc kiềm chế ARDS [9, 10, 11]. Các công thức thuốc chứa kẽm và các kim loại khác dường như cũng có hoạt động chống vi rút [12], là các giải pháp an toàn, rẻ tiền và có sẵn. Các công thức này có thể được sử dụng như là thuốc điều trị theo cách đơn trị liệu hoặc là liệu pháp phối hợp với cyclosporine, lopinavir, ritonavir, interferon beta 1b, ribavirin, remdesivir, các kháng thể đơn dòng và các peptide kháng vi rút đặc hiệu với 2019-nCoV. Bên cạnh đó, Tocilizumab, một kháng thể đơn dòng nhắm vào thụ thể interleukin 6, cũng có một hồ sơ an toàn tốt. Ngoài ra, các kháng thể đơn dòng và đa dòng cho 2019-nCoV có thể được phát triển để điều trị dự phòng sau phơi nhiễm.

Các thử nghiệm đang được tiến hành bằng các liệu pháp tế bào để điều trị ARDS có thể được mở rộng sang điều trị cho những bệnh nhân bị bệnh nặng với nhiễm trùng 2019-nCoV. Liệu pháp tế bào [13] sử dụng tế bào trung mô từ người cho máu, đã được chứng minh là làm giảm viêm “không sản xuất” (non-productive inflammation) (một phản ứng đối với vết thương, sự nhiễm trùng hoặc kích thích được đặc trưng bởi vết đỏ, phồng rộp, nóng và đau) và ảnh hưởng đến tái tạo mô và đang được đánh giá trong các thử nghiệm lâm sàng pha 1/2 ở bệnh nhân mắc ARDS (NCT02804945; NCT03608592). Nhiễm trùng 2019-nCoV ban đầu có liên quan đến tăng phản ứng Th2 [4] có thể phản ánh phản ứng sinh lý nhằm hạn chế phản ứng viêm quá mức, một hiện tượng lâm sàng giúp hướng dẫn thời gian điều trị interferon tối ưu ở bệnh nhân nhiễm trùng huyết, dẫn đến tăng tỷ lệ sống [14]. Sự phong tỏa Interleukin 17 có thể có lợi cho những bệnh nhân bị nhiễm trùng 2019-nCoV và tăng nồng độ interleukin 17 trong huyết tương.

Sự phân tách và phát triển ngắn hạn các tế bào T chống vi rút đã được chứng minh là một quy trình cứu sống cho bệnh nhân sau khi ghép tế bào gốc tạo máu tự thân với nhiễm trùng cytomegalovirus [15]. Việc phát triển các tế bào T đặc hiệu chống 2019-nCoV, dưới dạng thuốc tế bào, có thể hỗ trợ điều chế các sản phẩm tế bào T nhằm điều trị bổ trợ cho bệnh nhân bị nhiễm trùng 2019-nCoV nặng.

Một số cơ hội hiếm hoi để đánh giá các can thiệp điều trị ở đỉnh điểm của sự bùng phát SARS-CoV và MERS-CoV đã bị bỏ lỡ do sự chậm trễ nhẽ ra có thể tránh được và do sự suy giảm số lượng các trường hợp sau đó, khiến nhiều câu hỏi về mầm bệnh coronavirus vẫn chưa được giải đáp. Điều đáng thất vọng này làm cho đến nay các thử nghiệm điều trị được đăng ký cho MERS-CoV vẫn chưa hoàn tất. Trong khi 2019-nCoV vẫn đang tiếp tục lan rộng và phát triển, và số người chết tăng theo cấp số nhân, việc thúc đẩy sự phát triển trị liệu mới chắc chắn trở nên quan trọng nhằm giảm thiểu số ca tử vong do nhiễm 2019-nCoV.

Viet’s Post dịch đăng lần đầu dựa theo The Lancet

Tác giả gốc: Alimuddin Zumla, David S Hui, Esam I Azhar, Ziad A Memish, Markus Maeurer.
AZ là điều tra viên chính của Mạng lưới Pan-Phi về Nhiễm trùng mới nổi và tái phát (PANDORA-ID-NET), được tài trợ bởi Hiệp hội thử nghiệm lâm sàng các nước châu Âu và đang phát triển, được hỗ trợ theo Horizon 2020, Chương trình khung của EU cho nghiên cứu và Đổi mới, và một điều tra viên cao cấp của Viện nghiên cứu sức khỏe quốc gia. MM là thành viên của nhóm cố vấn miễn dịch bẩm sinh của Quỹ Bill & Melinda Gates, và công việc của ông được tài trợ bởi Quỹ Champalimaud.

Tài liệu tham khảo
1.WHO. Novel coronavirus (2019-nCoV) situation report – 14. https://www.who.int/docs/default-source/coronaviruse/situation-reports/20200203-sitrep-14-ncov.pdf?sfvrsn=f7347413_2
2.Hui DSC Zumla A. Severe acute respiratory syndrome: historical, epidemiologic, and clinical features. Infect Dis Clin North Am. 2019; 33: 869-889
3.Azhar EI Hui DSC Memish ZA Drosten C Zumla A. The Middle East respiratory syndrome (MERS). Infect Dis Clin North Am. 2019; 33: 891-905
4.Huang C Wang Y Li X. Clinical features of patients infected with 2019 coronavirus in Wuhan, China. Lancet. 2020; (published online Jan 24). https://doi.org/10.1016/S0140-6736(20)30183-5
5.Li G Fan Y Lai Y et al. Coronavirus infections and immune responses. J Med Virol. 2020; (published online Jan 25.). DOI:10.1002/jmv.25685
6.Channappanavar R Perlman S. Pathogenic human coronavirus infections: causes and consequences of cytokine storm and immunopathology. Semin Immunopathol. 2017; 39: 529-539
7.Batawi S Tarazan N Al-Raddadi R et al. Quality of life reported by survivors after hospitalization for Middle East respiratory syndrome (MERS). Health Qual Life Outcomes. 2019; 17: 101.
8.Ngai JC Ko FW Ng SS To KW Tong M Hui DS. The long-term impact of severe acute respiratory syndrome on pulmonary function, exercise capacity and health status. Respirology. 2010; 15: 543-550
9.Zumla A Chan JF Azhar EI Hui DS Yuen KY. Coronaviruses – drug discovery and therapeutic options. Nat Rev Drug Discov. 2016; 15: 327-347
10.Beigel JH Nam HH Adams PL et al. Advances in respiratory virus therapeutics—a meeting report from the 6th ISIRV antiviral group conference. Antiviral Res. 2019; 167: 45-67
11.Zumla A Azhar EI Arabi Y et al. Host-directed therapies for improving poor treatment outcomes associated with the Middle East respiratory syndrome coronavirus infections. Int J Infect Dis. 2015; 40: 71-74
12.Barnard DL Wong MH Bailey K et al. Effect of oral gavage treatment with ZnAL42 and other metallo-ion formulations on influenza A H5N1 and H1N1 virus infections in mice. Antivir Chem Chemother. 2007; 18: 125-132
13.Horie S Gonzalez HE Laffey JG Masterson CH. Cell therapy in acute respiratory distress syndrome. J Thorac Dis. 2018; 10: 5607-5620
14.Davies R O’Dea K Gordon A. Immune therapy in sepsis: are we ready to try again?. J Intensive Care Soc. 2018; 19: 326-344
15.Lerias JR Paraschoudi G Silva I et al. Clinically relevant immune responses against cytomegalovirus: implications for precision medicine. Int J Mol Sci. 2019; 201986.

Tin liên quan

[feedzy-rss feeds=”tin-tong-hop” max=”4″ feed_title=”yes” keywords_title=”corona, Vũ Hán, viêm phổi, nCoV, Hồ Bắc” size=”150″ meta=”date” sort=”date_desc” refresh=”15_days” summary=”no” thumb=”auto” size=”75″ columns=”2″ template=”default” error_empty=” “]
[feedzy-rss feeds=”science” max=”4″ feed_title=”yes” keywords_title=”corona, Wuhan, nCoV, Hubei” size=”150″ meta=”date” sort=”date_desc” refresh=”15_days” summary=”no” thumb=”auto” size=”75″ columns=”2″ template=”default” error_empty=”Sự kiện này đã kết thúc hoặc chủ đề này không còn được quan tâm”]

Thu mẫu nấm biển ở Hòn Mun, Vịnh Nha Trang

Hòn Mun là một trong những hòn đảo thơ mộng nhất trong hệ thống đảo của Nha Trang. Hòn Mun cách cảng Cầu Đá 10 km (khoảng 45 phút đi tàu). Không chỉ hấp dẫn bởi cát trắng, biển xanh, những tổ yến hoang sơ trên cheo leo vách đá… nơi đây còn nổi tiếng là một trong những “thủy cung” “giàu và đẹp” nhất của biển Đông Nam Á. Nơi đây còn nổi tiếng có nhiều dịch vụ biển và khám phá biển bằng tàu đáy kính và dịch vụ lặn biển.
Được gọi là Hòn Mun vì phía Đông Nam của đảo có những mỏm đá nhô cao, vách dựng hiểm trở tạo thành hang động, đặc biệt đá ở đây đen tuyền như gỗ mun, rất hiếm thấy ở những nơi khác.


Tổng diện tích của toàn bộ khu bảo tồn là 160 km2, trong đó 122 km2 là diện tích mặt biển, 38 km2 là tổng diện tích của các hòn đảo. Hòn Mun với rạn san hô và hệ sinh vật biển đa dạng, phong phú là khu bảo tồn biển đầu tiên và duy nhất của Việt Nam hiện nay, đã được Quỹ Ðộng vật hoang dã thế giới (WWF) đánh giá là khu vực đa dạng sinh học biển bậc nhất ở Việt Nam, đặc biệt rất phong phú về san hô, hiện tại đã phát hiện được khoảng 350 loài.
Hệ sinh thái động, thực vật biển ở đây vô cùng phong phú. Theo thống kê trên thế giới có khoảng 2.000 loài san hô và sinh vật biển thì ở Hòn Mun đã có tới 1.500 loài.
Ở Hòn Mun, san hô nằm ở độ sâu 10m, cùng với rất nhiều loại cá đủ mà sắc và chủng loại. Với độ sâu dưới 18 m, thì không còn cảnh đẹp của san hô, nhưng có rất nhiều hang động. Có những hang sâu 10–15 m, phải dùng đèn để quan sát những sinh vật biển chuyên sống trong bóng tối như tôm, mực, tôm hùm, cá đuối…

 

%d bloggers like this: