Tag Archive | vi sinh vật

Hà Lan công bố ca nhiễm Covid-19 lây từ chồn

Bộ trưởng Nông nghiệp Hà Lan vừa thông báo, một người làm tại trang trại nuôi chồn đã bị nhiễm virus corona.

Vào tháng 4, những người nuôi chồn ở Hà Lan nhận thấy có một số con chồn khó thở ở hai trang trại thuộc vùng Noord-Brabant, gần biên giới với Bỉ. Tới cuối tháng, 2,4% số lượng chồn chết.

Bởi vậy, các nhà chức trách bắt đầu tiến hành một cuộc điều tra trên quy mô rộng. Theo đó, nhiều con chồn có kết quả dương tính với virus corona.

{keywords}

Trang trại nuôi chồn ở Beek en Donk (Hà Lan) phải tạm thời đóng cửa. Ảnh: EPA

Ngày 20/5, Bộ trưởng Nông nghiệp Hà Lan, Carola Schouten, thông báo, một nhân công làm ở trang trại bị lây nhiễm virus corona từ chồn. Tuy nhiên, bà Schouten không tiết lộ chi tiết về tình trạng sức khỏe hiện tại của bệnh nhân.

Lông chồn được bán ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ. Do áp lực của các nhà hoạt động vì quyền của động vật, Chính phủ Hà Lan đã cấm mở các trang trại chồn mới từ năm 2013 và những khu đang tồn tại sẽ phải đóng cửa vào năm 2024.

Hiện tại, ở Hà Lan có 130 trang trại nuôi chồn. Các lệnh giới hạn đã được áp dụng ở các khu bị lây nhiễm, tất cả vật nuôi và phân không được đưa ra khỏi khu vực. Nhân công làm việc tại đây phải mặc đồ bảo hộ.

Những con chồn là trường hợp thú nuôi đầu tiên ở Hà Lan nhiễm Covid-19. Trong khi đó, ở Hong Kong, hai con chó có kết quả dương tính với virus corona, một con đã chết.

Ở Bỉ, một người phụ nữ đã lây bệnh Covid-19 cho con mèo của mình. Ở vườn thú Bronx (New York, Mỹ) có 3 con sư tử, 5 con hổ dương tính nCoV.

Theo Reuters, Daily Mail và Vietnamnet: Read More

TT Trump: Mỹ đang điều tra nghi vấn virus với phòng thí nghiệm Vũ Hán

Ông Trump cho biết chính phủ Mỹ đang cố gắng xác định liệu virus corona có phải thoát ra từ phòng thí nghiệm ở Vũ Hán.

Nhà virus học nổi tiếng của Séc: COVID-19 có thể bắt nguồn từ phòng thí nghiệm 

Công bố mới trên Tạp chí Nature cho thấy tê tê có thể đã truyền virus corona mới từ dơi sang người

SARS-CoV-2 không phải là từ phòng thí nghiệm hoặc bị thao túng có chủ đích

SARS-CoV-2 gây ra COVID-19 có thể được tái tổ hợp từ 2 vi rút khác nhau

Dơi, rắn hay tê tê đã truyền virus corona mới cho người?

Nguồn gốc của virus corona chủng mới gây bệnh Covid-19 đến nay vẫn còn là một bí ẩn.

Tướng Mark Milley, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, hôm 14/4 cho biết tình báo Mỹ chỉ ra rằng virus có khả năng hình thành ngoài tự nhiên, không phải được tạo ra trong phòng thí nghiệm ở Trung Quốc, nhưng không khả năng nào hoàn toàn chắc chắn.

Tổng thống Mỹ Donald Trump trong họp báo ở Nhà Trắng hôm 15/4. Ảnh: Reuters.

Fox News hôm 15/4 nói virus được tạo ra tại phòng thí nghiệm ở Vũ Hán không phải để làm vũ khí sinh học, mà là một phần trong nỗ lực của Trung Quốc nhằm chứng minh rằng năng lực của họ trong việc xác định và chống virus tương đương hoặc tốt hơn khả năng của Mỹ.

Đài này và các đơn vị truyền thông đề cập đến phòng thí nghiệm ở Vũ Hán, nơi diễn ra các thí nghiệm về virus, và cho rằng tiêu chuẩn an toàn lỏng lẻo ở đó đã dẫn đến việc một người nào đó đã bị nhiễm virus rồi đi tới một chợ đồ tươi sống gần đó, nơi virus bắt đầu lây lan.

Trong cuộc họp báo ở Nhà Trắng hôm 15/4, Tổng thống Mỹ Donald Trump được hỏi về việc giới chức và truyền thông cho rằng virus có thể thoát ra từ phòng thí nghiệm ở Vũ Hán, và ông nói đã nghe về vụ việc này.

“Chúng tôi đang kiểm tra rất kỹ lưỡng về tình huống này”, ông nói, theo Reuters.

Khi được hỏi ông có nêu vấn đề trong các cuộc trò chuyện với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hay chưa, ông Trump nói: “Tôi không muốn bàn luận những gì tôi đã nói với ông ấy về phòng thí nghiệm, tôi chỉ không muốn nói đến, hiện tại việc này không phù hợp”.

Hồi tháng 2, Viện Virus học Vũ Hán đã bác bỏ tin đồn rằng virus corona chủng mới có thể được tổng hợp nhân tạo tại một trong các phòng thí nghiệm của viện này hoặc có thể đã thoát ra từ một cơ sở như vậy.

Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo, trong cuộc phỏng vấn Fox News Channel sau cuộc họp báo của ông Trump, nói “chúng tôi biết loại virus này có nguồn gốc ở Vũ Hán, Trung Quốc”, và rằng Viện Virus học cách chợ đồ tươi sống nói trên chỉ vài cây số.

“Chúng tôi thực sự cần chính phủ Trung Quốc nói ra sự thật” và giúp giải thích “chính xác virus này đã lây lan như thế nào”, ông Pompeo nói.
Các nhà khoa học trên thế giới đồng thuận rằng SARS-CoV-2, tên chính thức của virus, có nguồn gốc từ loài dơi. Ông Trump và các quan chức khác cũng đã bày tỏ sự hoài nghi sâu sắc về việc Trung Quốc công bố chính thức số người chết vì virus chỉ khoảng 3.000 người, trong khi Mỹ có số người chết lên tới hơn 20.000 và đang tiếp tục tăng.

Ông quay lại vấn đề này hôm 15/4, nói rằng Mỹ có nhiều ca tử vong hơn “vì chúng ta báo cáo nhiều hơn”.

“Bạn có thực sự tin vào những con số ở đất nước rộng lớn được gọi là Trung Quốc này, và họ có một vài ca nhiễm và một vài người chết; có ai thực sự tin điều đó không?”, ông nói.

Viet’s Post (Theo Fox News, Reuters và Zingnews)

Anh thử nghiệm vắc xin phòng Covid-19 trên 500 người sau khi thành công trên tinh tinh

Trong tuần tới, Đại học Oxford (Anh) sẽ bắt đầu thử nghiệm vắc xin trên người với hy vọng có thể phổ biến rộng rãi vào mùa thu.

Đại học Oxford (Anh) là một trong hàng trăm tổ chức trên thế giới đang chạy đua để mau chóng tìm được vắc xin phòng Covid-19. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hơn 70 loại đang được phát triển.

Mới đây, trường đại học danh tiếng của Anh đã làm dấy lên hy vọng khi đặt niềm tin sẽ sớm có liều ngăn ngừa vào tháng 9. Họ cho rằng kết quả nghiên cứu của mình có tới 80% thành công.

Các thử nghiệm áp dụng trên nhiều loại động vật khác nhau, trong đó có tinh tinh, đã cho kết quả khả quan.

{keywords}

Hàng trăm tổ chức đang nghiên cứu tìm vắc xin ngừa Covid-19. Ảnh: Buzz

Vào tuần tới, Đại học Oxford sẽ tiến hành thử nghiệm giai đoạn một trên người. Hiện đã có 510 người, từ 18 tới 55 tuổi, được xét duyệt tham gia.

“Chúng tôi thực hiện một quy trình khá cẩn trọng nhưng nhanh gọn để đánh giá hiệu quả vắc xin mà chúng tôi đang phát triển”, Giáo sư Adrian Hill cho hay.

Đại học Oxford cũng cố gắng để quyên tiền giúp thúc đẩy việc sản xuất vắc xin. Với quy mô của mình, đơn vị này sẽ chỉ sản xuất được số liều giới hạn.

“Bạn cần một công nghệ cho phép sản xuất không chỉ hàng triệu mà phải là hàng tỷ liều trong một năm”, Giáo sư Hill nói.

Các loại thuốc và vắc xin sẽ thử nghiệm trong ba giai đoạn trước khi được cấp phép sử dụng trên con người. Giai đoạn đầu kiểm tra độ an toàn, giai đoạn hai quyết định liều lượng. Giai đoạn ba liên quan tới hàng trăm, đôi khi hàng nghìn người, ở nhiều khu vực khác nhau trong một thời gian dài.

Ngoài Đại học Oxford, ba nhóm nghiên cứu khác (một nhóm ở Trung Quốc và 2 nhóm ở Mỹ) cũng bắt đầu thử nghiệm trên người.

Thông thường, để một loại vắc xin ra thị trường cần mất tới 10-15 năm. Tuy nhiên, trong tình trạng khẩn cấp này, ngành công nghiệp dược phẩm hy vọng có thể rút ngắn thời gian. Họ đặt niềm tin vắc xin có thể lưu hành vào năm tới.

Viet’s Post (Theo Daily Mail và Vietnamnet: Read More)

Nhà virus học nổi tiếng của Séc: COVID-19 có thể bắt nguồn từ phòng thí nghiệm

Theo Trithucvn dẫn nguồn tin từ Petr Svab/The Epoch Times, một nhà virus học người Séc phát triển thành công một phương pháp đơn giản để phát hiện những ca lây nhiễm virus SARS-CoV-2, đã lên tiếng ủng hộ luận điểm cho rằng virus này có thể bắt nguồn từ một phòng thí nghiệm. Trong khi đó một số nghiên cứu trước đây ủng hộ theo hướng ngược lại. Viet’s Post đưa tin lại như một giả thuyết khoa học và không thể hiện các quan điểm chính trị có liên quan nếu có.

Công bố mới trên Tạp chí Nature cho thấy tê tê có thể đã truyền virus corona mới từ dơi sang người

SARS-CoV-2 không phải là từ phòng thí nghiệm hoặc bị thao túng có chủ đích

SARS-CoV-2 gây ra COVID-19 có thể được tái tổ hợp từ 2 vi rút khác nhau

Dơi, rắn hay tê tê đã truyền virus corona mới cho người?

Nhà virus học nổi tiếng của Séc: COVID-19 có thể bắt nguồn từ phòng thí nghiệm
Nhà virus học Sona Pekova (Ảnh chụp/Youtube)

Tiến sỹ Sona Pekova, một nhà virus học đang làm việc ở  phòng thí nghiệm Tilia Laboratories tại Cộng hòa Séc, đã thu hút được sự chú ý của giới truyền thông sau khi phát hiện ra một số ca nhiễm virus SARS-CoV-2, hay virus corona chủng mới, tại quốc gia Trung Âu nhỏ bé này.

Mặc dù loại trừ khả năng virus SARS-CoV-2 là một loại vũ khí sinh học, nhưng Pekova ủng hộ lập luận cho rằng nó có thể có nguồn gốc từ một phòng thí nghiệm.

Virus SARS-CoV-2 bùng phát ở thành phố Vũ Hán, miền trung Trung Quốc, vào khoảng tháng 11 năm 2019 trước khi lan ra khắp Trung Quốc và thế giới.

Tính đến ngày 10/4 năm nay, đã có hơn 1,8 triệu ca nhiễm virus và hại chết hơn 112.000 người trên toàn thế giới. Cộng hòa Séc, một nước chỉ với hơn 10 triệu dân, đã có gần 6.000 ca nhiễm với gần 140 người chết.

Phòng thí nghiệm của Pekova đã phát triển được một biện pháp mới để xét nghiệm virus.

Pekova cùng các cộng sự của mình cố gắng đơn giản hóa phương pháp xét nghiệm để nó cho kết quả nhanh và rẻ hơn. Họ tìm kiếm đoạn gen đặc trưng của virus và điều chỉnh phương pháp xét nghiệm để tập trung phát hiện ra đặc trưng đó.

Pekova thực sự đã tìm được đoạn gen ấy. Việc này không chỉ giúp bà phát triển được phương pháp xét nghiệm mới, mà còn củng cố giả thuyết cho rằng con virus được tạo ra trong phòng thí nghiệm.

Tôi đã tập trung vào các khu vực chỉ huy của virus (5’ UTR) – 265 base (bazơ) đầu tiên của gen (trước cả những gen kết cấu) và phát hiện ra những trình tự gen đặc biệt tới nỗi tôi không thể hình dùng ra được bất cứ nét tự nhiên nào trong nguồn gốc của nó,” bà trả lời tòa soạn The Epoch Times tại Cộng hòa Séc.

5’ UTR, hay còn gọi là “Vùng không dịch mã” là trung tâm chỉ huy của con virus.

Trung tâm chỉ huy của con virus chịu trách nhiệm cho toàn bộ các chức năng sống của nó (như tự nhân đôi, sao mã…)” bà nói.

Mặc dù các chủng virus corona dễ bị đột biến, nhưng “khu điều khiển trung tâm” của mỗi chủng đều giống nhau và nếu nó đột biến thì phải là để thu được lợi ích nào đó, Pekova nói tại một cuộc phỏng vấn với công ty truyền thông Leontynka của Séc.

Tuy vậy, khi bà quan sát khu 5’ UTR của virus SARS-CoV-2, bà phát hiện ra nhiều đột biến.

Với con virus này, tại khu điều khiển trung tâm của nó, xem ra đã có ai đó tới đây, mở tủ, ném mọi thứ ra ngoài, lật đổ ghế.”

Và nếu đó là một biến thể tự nhiên, thì rất khó để con người có thể tưởng tượng ra được nhiều sự đột biến như vậy – như chèn, xóa, các đột biến nucleotide đơn – có thể diễn ra một cách ngẫu nhiên và rằng con virus này không chết giữa đường khi các quá trình này xảy ra.”

Điều này “ít nhất là không điển hình”, bà nói.

Pekova có một sự nghiệp huy hoàng, bà đã công bố hàng chục bài báo trong lĩnh vực vi sinh phân tử và di truyền. Với bà những việc như “nhân bản gen đột biến” đã trở thành chuyện “cơm bữa”.

Chính nền tảng kiến thức sâu rộng này đã giúp bà nhận ra được những yếu tốt bất thường tại khu 5’ UTR của virus SARS-CoV-2.

COVID-19: từ phòng thí nghiệm hay tự nhiên?

Những giả thuyết về nguồn gốc phòng thí nghiệm của virus SARS-CoV-2 đã gây ra nhiều đồn đoán trong công chúng vì Vũ Hán là nơi duy nhất tại Trung Quốc được cấp giấy phép đặt một phòng thí nghiệm sinh học P4 có thể nghiên cứu các mầm bệnh nguy hiểm nhất như Ebola và SARS.

Trung Quốc ban đầu giải thích rằng virus bắt nguồn từ một khu chợ bán hải sản ở Vũ Hán. Tuy nhiên lập luận này đã suy yếu khi nhiều nghiên cứu cho thấy không ít các bệnh nhân đầu tiên không hề tiếp xúc với khu chợ.

Mặc dù một số nhà virus học trước đây đã chỉ ra những đặc trưng bất thường trong gen của virus SARS-CoV-2, làm dấy lên những nghi vấn về nguồn gốc phòng thí nghiệm, nhưng các chuyên gia dường như đều nhất trí rằng cần có thêm thông tin để đánh giá chính xác xem con virus bắt nguồn từ đâu.

Việc so sánh các bộ gen đã cho thấy giữa các chủng virus corona mà con người đã biết, virus SARS-CoV-2 gần giống nhất với một số chủng virus có trong dơi và tê tê. Tuy vậy, vẫn có những sự khác biệt khiến người ta nghĩ rằng có một mắt xích nào đó đã biến mất.

Nếu con virus đến từ động vật thì hẳn virus phải lây từ dơi hoặc tê tê sang một động vật khác trước khi lây cho con người. Trong trường hợp này, các loài động vật bị nhiễm từ dơi và tê tê ấy vẫn có thể là nguồn lây lan virus. Tuy vậy, giới chức Trung Quốc không hề cho thấy quyết tâm xét nghiệm các loài động vật hoang dã tại Vũ Hán, và nếu họ có đang tiến hành các xét nghiệm này, thì vẫn chưa có kết quả nào được công bố.

Trên thực tế, thiếu minh bạch là chính là một trong những việc Trung Quốc bị chỉ trích nhiều nhất trong quá trình đối phó với virus SARS-CoV-2.

Pekova nói rằng “Vậy nên trong ngành di truyền học, trong sinh học phân tử, trong việc nhân bản, ngày nay chúng ta đã có những công cụ có thể thay đổi bộ gen từ cơ sở của nó và điều này chỉ phụ thuộc duy nhất vào lương tâm của nhà khoa học, và tôi không rõ là điều đó có đủ hay không.”

Viet’s Post (Theo Petr Svab/The Epoch Times Trithucvn: Read More)

3 biến thể và các tuyến lây nhiễm được xác định thông qua phân tích 160 bộ gen SARS-CoV-2 gây ra COVID-19 trên khắp toàn cầu

Trong một công bố mới nhất trên Tạp chí danh tiếng PNAS khi phân tích 160 bộ gen của virus SARS-CoV-2 ở các bệnh nhân COVID-19 từ khắp nơi trên thế giới, các nhà khoa học đã phát hiện ba biến thể khác nhau của virus (loại A, B và C) và các tuyến lây nhiễm của các biến thể này. Các loại A và C được tìm thấy có tỷ lệ cao tương ứng ở Mỹ và Châu Âu. Ngược lại, loại B xuất hiện phổ biến nhất ở Đông Á và bộ gen tổ tiên của nó dường như không lan ra ngoài Đông Á nếu không bị đột biến thành các nhóm khác có nguồn gốc từ loại B. Điều này thể hiện hiệu ứng kẻ sáng lập hoặc hiện tượng kháng miễn dịch hay kháng môi trường nhằm chống lại loại này ở bên ngoài châu Á.

Tiến sĩ Forster, một nhà di truyền học tại Đại học Cambridge, và các đồng nghiệp đã sử dụng dữ liệu từ bộ gen virus SARS-CoV-2 được lấy mẫu từ khắp nơi trên thế giới trong khoảng thời gian từ ngày 24 tháng 12 năm 2019 đến ngày 4 tháng 3 năm 2020. Các tác giả của nghiên cứu này cho biết có rất nhiều đột biến xảy ra nhanh chóng, gọn gàng trong cây phát sinh chủng loại của các hệ gen SARS-CoV-2. Nhóm tác giả đã sử dụng thuật toán mạng di truyền để xây dựng cây phát sinh chủng loại. Các kỹ thuật này hầu hết được biết đến để lập bản đồ các biến đổi di truyền của quần thể người tiền sử thông qua trình tự DNA. Đây là lần đầu tiên chúng được sử dụng để theo dõi các con đường lây nhiễm của một loại vi rút corona như SARS-CoV-2.

Kết quả nghiên cứu đã phát hiện có ba biến thể khác nhau của virus, mỗi loại bao gồm các nhóm chủng có liên quan chặt chẽ với nhau. Biến thể loại A có quan hệ gần nhất với chủng vi rút được phát hiện ở loài dơi, là nhóm chủng có mặt ở Vũ Hán từ ban đầu, nhưng đáng ngạc nhiên là loại A không phải là loại virus chiếm ưu thế của thành phố này.

Mạng lưới phát sinh chủng loại của 160 bộ gen SARS-CoV-2. A là nhóm virus gốc BatCoVRaTG13 từ loài dơi ( Rhinolophus affinis) ở tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Diện tích vòng tròn tỷ lệ thuận với số lượng loài và mỗi nốt trên các liên kết đại diện cho một vị trí nucleotide đột biến. Ảnh: Forster et al, doi: 10.1073 / pnas.2004999117.

Các phiên bản đột biến của loại A đã được tìm thấy ở những người Mỹ từng sống ở Vũ Hán và một tỷ lệ lớn virus loại A được tìm thấy ở các bệnh nhân đến từ Mỹ và Úc.

Loại B là nhóm virus chính của Vũ Hán, có mặt phổ biến ở những bệnh nhân từ khắp các nước Đông Á. Tuy nhiên, biến thể loại này đã không đi xa hơn bên ngoài khu vực nếu không bị đột biến thành loại khác. Điều này ngụ ý nguồn phát sinh virus là từ Vũ Hán hoặc có sự đề kháng bởi hệ miễn dịch hoặc môi trường chống lại loại này ở bên ngoài Đông Á.

Biến thể loại C là loại chính của châu Âu, được tìm thấy ở những bệnh nhân sớm từ Pháp, Ý, Thụy Điển và Anh. Nó không có trong mẫu nghiên cứu ở Trung Quốc đại lục, nhưng được thấy ở Singapore, Hồng Kông và Hàn Quốc.

Phân tích mới cũng cho thấy rằng một trong những lần lây nhiễm virus sớm nhất vào Ý là thông qua ca nhiễm đầu tiên được ghi nhận ở Đức vào ngày 27 tháng 1, và một con đường lây nhiễm sớm khác của Ý có liên quan đến các chủng virus từ Singapore.

Điều quan trọng là các kỹ thuật phân tích mạng di truyền của nhóm tác giả đã vạch ra chính xác các tuyến lây nhiễm được thiết lập trước đây. Thực tế là các đột biến và dòng virus đã kết nối thành công các dấu chấm của các trường hợp đã biết.

Do đó, các nhà khoa học cho rằng các phương pháp phân tích phát sinh chủng loại này có thể được áp dụng cho phân tích trình tự bộ gen của các virus corona mới nhất để giúp dự đoán các điểm nóng trong tương lai về con đường truyền bệnh và phát sinh đột biến.

Phân tích mạng di truyền có khả năng giúp xác định các nguồn lây nhiễm COVID-19 chưa được chứng thực, sau đó có thể được kiểm dịch để ngăn chặn sự lây lan của căn bệnh này trên toàn thế giới.

Các biến thể A, liên quan chặt chẽ nhất với virus được tìm thấy ở cả dơi và tê tê, hiện vẫn đang được các nhà khoa học mô tả là gốc rễ của sự bùng phát đại dịch.

Loại B có nguồn gốc từ A, cách nhau bởi hai đột biến, sau đó đến lượt loại C được phát sinh từ loại B.

Các tuyến lây nhiễm của 3 biến chủng A, B và C trên khắp thế giới. Video+Ảnh: dailymail.co.uk.

Các tác giả cho biết, sở dĩ biến thể B chỉ có mặt ở Đông Á có thể là kết quả của hiệu ứng kẻ sáng lập: hiện tượng “thắt cổ chai” di truyền đã xảy ra khi trong trường hợp các chủng virus này mới được tạo thành từ một nhóm nhỏ nhưng bị cách ly trong thành phố.

Tiến sĩ Forster còn cho biết có thể có một lời giải thích khác đáng để xem xét, đó là virus loại B Vũ Hán có thể thích nghi về mặt miễn dịch hoặc môi trường với một bộ phận lớn dân số Đông Á. Có thể chúng cần phải đột biến để vượt qua sự kháng cự bên ngoài Đông Á. Chúng ta dường như thấy tốc độ đột biến ở Đông Á chậm hơn các nơi khác, trong giai đoạn ban đầu này.

Viet’s Post

Tài liệu gốc: Peter Forster et al. Phylogenetic network analysis of SARS-CoV-2 genomes. PNAS, published online April 8, 2020; doi: 10.1073/pnas.2004999117

Tác hại tiềm tàng của chloroquine, hydroxychloroquine và azithromycin trong điều trị COVID-19

Chloroquine, hydroxychloroquine và azithromycin đang được sử dụng để điều trị và phòng ngừa COVID-19 mặc dù bằng chứng về tính hiệu quả của chúng còn thấp. Vì vậy, một báo cáo tổng quan mới nhất được công bố trên Tạp chí Hiệp hội Y khoa Canada (Canadian Medical Association Journal) cho rằng các bác sĩ và bệnh nhân nên biết về các tác dụng phụ nghiêm trọng tiềm tàng của các thuốc này.

Báo cáo tổng quan cho thấy các bác sĩ và bệnh nhân nên biết về một số tác dụng phụ hiếm gặp nhưng có khả năng đe dọa đến tính mạng của chloroquine và hydroxychloroquine, đồng thời có thể áp dụng để quản lý sử dụng thuốc dựa trên các bằng chứng tốt nhất hiện có.

Các tác dụng phụ tiềm ẩn được chỉ ra bao gồm:

  • Rối loạn nhịp tim
  • Hạ đường huyết
  • Tác dụng thần kinh, như kích động, nhầm lẫn, ảo giác và hoang tưởng
  • Tương tác với các thuốc khác
  • Khác biệt về trao đổi chất (một số người chuyển hóa chloroquine và hydroxychloroquine kém và một tỷ lệ nhỏ chuyển hóa chúng nhanh chóng, vì thế ảnh hưởng đến đáp ứng điều trị)
  • Sử dụng quá liều (chloroquine và hydroxychloroquine rất độc khi dùng quá liều và có thể gây co giật, hôn mê và ngừng tim)
  • Thiếu thuốc (bệnh nhân bị rối loạn tự miễn dịch như viêm khớp dạng thấp, ban đỏ lupus và các bệnh mãn tính khác, những người dùng hydroxychloroquine để điều trị các tình trạng này có thể gặp vấn đề khi tiếp cận thuốc này)

Báo cáo tổng quan cũng cho thấy các bằng chứng hiện nay là chưa đủ mạnh về lợi ích điều trị của các thuốc này ở những bệnh nhân mắc COVID-19 và cảnh báo rằng có thể các phương pháp điều trị thậm chí có thể làm bệnh nặng hơn.

Mặc dù có người đang lạc quan về tiềm năng của chloroquine hoặc hydroxychloroquine trong điều trị COVID-19, nhưng cần thận trọng hơn về khả năng thuốc có thể ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển bệnh. Vì vậy, các nhà khoa học cho rằng cần có các bằng chứng tốt hơn trước khi thường xuyên sử dụng các loại thuốc này để điều trị cho bệnh nhân mắc COVID-19.

Viet’s Post

Tài liệu gốc: David N. Juurlink. Safety considerations with chloroquine, hydroxychloroquine and azithromycin in the management of SARS-CoV-2 infection. CMAJ, 2020; DOI: 10.1503/cmaj.200528

Danh sách các quốc gia mắc COVID-19: Cập nhật đến 31/3/2020

Tính đến 31/3/2020
– Toàn cầu: 785K ca nhiễm tại 211 quốc gia và vùng lãnh thổ, 38K tử vong (4,8%), 165K hồi phục (21%)
– Top 3 ca nhiễm: Mỹ (160K), Ý (100K), Tây Ban Nha (88K) (đều vượt trên Trung Quốc)
– Top 3 tỷ lệ tử vong: Ý (11%), Tây Ban Nha (8,8%) và Indonesia (8,6%)
– Top 3 tỷ lệ hồi phục: Trung Quốc (93%), Hàn Quốc (55%) và Iran (33%)

1. Danh sách các quốc gia mắc COVID-19 xếp theo số ca nhiễm: Cập nhật đến 31/3/2020

Địa điểm[a] Xác nhận Tử vong Tỷ lệ tử vong (%) Hồi phục Tỷ lệ hồi phục (%)
Tổng quốc gia và vùng lãnh thổ (211)[1] 784,716 37,639 4.80 165,370 21.07
Hoa Kỳ[b]
163,479 3,146 1.92 5,604 3.43
Ý
101,739 11,591 11.39 14,620 14.37
Tây Ban Nha
87,956 7,716 8.77 16,780 19.08
Trung Quốc đại lục[2][c]
81,470 3,304 4.06 75,770 93.00
Đức
66,885 645 0.96 6,522 9.75
Iran
41,495 2,757 6.64 13,911 33.52
Pháp
40,174 2,606 6.49 7,202 17.93
Vương quốc Anh
22,141 1,408 6.36 135 0.61
Thụy Sĩ[3]
15,923 354 2.22 2,105 13.22
Bỉ[4]
11,899 513 4.31 1,527 12.83
Hà Lan
11,750 864 7.35 0 0.00
Thổ Nhĩ Kỳ
10,827 168 1.55 162 1.50
Hàn Quốc
9,786 162 1.66 5,408 55.26
Áo
9,618 108 1.12 636 6.61
Canada
7,435 89 1.20 1,065 14.32
Bồ Đào Nha
6,408 140 2.18 43 0.67
Israel
4,695 16 0.34 161 3.43
Úc[5]
4,460 19 0.43 226 5.07
Na Uy
4,445 32 0.72 0 0.00
Brasil
4,330 140 3.23 120 2.77
Thụy Điển[6]
4,106 161 3.92 18 0.44
Cộng hòa Séc[7]
2,976 23 0.77 25 0.84
Đan Mạch[8]
2,755 77 2.79 0 0.00
Malaysia
2,626 37 1.41 479 18.24
Ireland
2,615 46 1.76 5 0.19
Chile[d]
2,139 7 0.33 75 3.51
România
2,109 65 3.08 209 9.91
Ba Lan
2,055 31 1.51 35 1.70
Luxembourg
1,988 22 1.11 40 2.01
Ecuador
1,890 57 3.02 3 0.16
Nhật Bản
1,866 54 2.89 404 21.65
Nga[e]
1,836 9 0.49 66 3.59
Pakistan
1,717 20 1.16 57 3.32
Philippines
1,546 78 5.05 42 2.72
Thái Lan[9]
1,524 9 0.59 127 8.33
Ả Rập Xê Út
1,453 8 0.55 115 7.91
Indonesia
1,414 122 8.63 75 5.30
Nam Phi
1,326 3 0.23 31 2.34
Phần Lan
1,308 13 0.99 10 0.76
Ấn Độ[10]
1,251 32 2.56 102 8.15
Hy Lạp[11]
1,212 43 3.55 52 4.29
Panama
1,075 24 2.23 4 0.37
Iceland
1,020 2 0.20 135 13.24
México
993 20 2.01 3 0.30
Peru
950 24 2.53 322 33.89
Singapore[12]
879 3 0.34 228 25.94
Cộng hòa Dominica
859 39 4.54 3 0.35
Argentina
820 20 2.44 51 6.22
Croatia
790 6 0.76 64 8.10
Serbia
785 16 2.04 42 5.35
Slovenia
756 11 1.46 10 1.32
Estonia
715 3 0.42 20 2.80
Colombia
702 10 1.42 10 1.42
Qatar
693 1 0.14 51 7.36
Hồng Kông
682 4 0.59 124 18.18
Diamond Princess
672 10 1.49 603 89.73
Ai Cập[13][f]
656 41 6.25 152 23.17
Iraq
630 46 7.30 152 24.13
UAE
611 5 0.82 61 9.98
New Zealand
600 1 0.17 74 12.33
Algérie[14]
584 35 5.99 31 5.31
Maroc
556 33 5.94 15 2.70
Ukraina
548 13 2.37 8 1.46
Bahrain
515 4 0.78 279 54.17
Litva
484 7 1.45 1 0.21
Armenia
482 3 0.62 30 6.22
Hungary
447 15 3.36 34 7.61
Liban
446 11 2.47 35 7.85
Latvia
376 0 0.00 1 0.27
Tunisia
362 10 2.76 2 0.55
Bulgaria
359 8 2.23 15 4.18
Bosna và Hercegovina
358 9 2.51 17 4.75
Slovakia
336 0 0.00 7 2.08
Andorra
334 6 1.80 6 1.80
Costa Rica
330 2 0.61 4 1.21
Uruguay
309 1 0.32 0 0.00
Đài Loan
306 5 1.63 39 12.75
Kazakhstan
302 1 0.33 21 6.95
Bắc Macedonia
285 7 2.46 12 4.21
Azerbaijan
273 4 1.47 26 9.52
Jordan
268 5 1.87 26 9.70
Kuwait
266 0 0.00 72 27.07
Burkina Faso
246 12 4.88 31 12.60
Moldova
245 2 0.82 13 5.31
San Marino
230 25 10.87 13 5.65
Síp
225 6 2.67 18 8.00
Réunion
224 0 0.00 0 0.00
Albania
223 12 5.38 44 19.73
Việt Nam[15]
204 0 0.00 55 26.96
Oman
179 0 0.00 26 14.53
Puerto Rico
174 6 3.45 0 0.00
Cuba[g]
170 4 2.35 4 2.35
Quần đảo Faroe
168 0 0.00 70 41.67
Bờ Biển Ngà
168 1 0.60 6 3.57
Sénégal
162 0 0.00 28 17.28
Malta
156 0 0.00 2 1.28
Belarus[16]
152 0 0.00 47 30.92
Ghana
152 5 3.29 2 1.32
Uzbekistan
149 2 1.34 7 4.70
Cameroon
139 6 4.32 5 3.60
Honduras
139 3 2.16 0 0.00
Nigeria
131 2 1.53 8 6.11
Venezuela
129 3 2.33 39 30.23
Mauritius
128 3 2.34 0 0.00
Brunei
127 1 0.79 38 29.92
Sri Lanka
122 2 1.64 14 11.48
Afghanistan
120 4 3.33 2 1.67
Palestine
115 1 0.87 18 15.65
Campuchia
107 0 0.00 23 21.50
Guadeloupe
106 4 3.77 0 0.00
Kosovo
106 1 0.94 1 0.94
Gruzia
103 0 0.00 20 19.42
Bolivia
97 4 4.12 0 0.00
Kyrgyzstan
94 0 0.00 3 3.19
Martinique
93 1 1.08 0 0.00
Montenegro
91 1 1.10 0 0.00
Mayotte
82 0 0.00 0 0.00
Trinidad và Tobago
82 3 3.66 1 1.22
CHDC Congo
81 8 9.88 2 2.47
Jersey
81 2 2.47 0 0.00
Rwanda
70 0 0.00 0 0.00
Gibraltar
65 0 0.00 14 21.54
Liechtenstein
64 0 0.00 0 0.00
Paraguay
64 3 4.69 1 1.56
Bắc Síp
61 1 1.64 29 47.54
Guernsey
60 0 0.00 0 0.00
Guam
58 1 1.72 0 0.00
Aruba
50 0 0.00 0 0.00
Kenya
50 1 2.00 1 2.00
Bangladesh
49 5 10.20 19 38.78
Đảo Man
49 0 0.00 0 0.00
Monaco
46 0 0.00 1 2.17
Guyane thuộc Pháp
43 0 0.00 0 0.00
Madagascar
43 0 0.00 0 0.00
Ma Cao
38 0 0.00 10 26.32
Guatemala
36 1 2.78 10 27.78
Jamaica
36 1 2.78 2 5.56
Polynésie thuộc Pháp
35 0 0.00 0 0.00
Zambia
35 0 0.00 0 0.00
Togo
34 1 2.94 10 29.41
Barbados
33 0 0.00 0 0.00
Uganda
33 0 0.00 0 0.00
El Salvador
30 0 0.00 0 0.00
Quần đảo Virgin thuộc Mỹ
30 0 0.00 0 0.00
Niger
27 3 11.11 0 0.00
Mali
25 2 8.00 0 0.00
Ethiopia
23 0 0.00 1 4.35
Bermuda
22 0 0.00 10 45.45
Guinée
22 0 0.00 0 0.00
Cộng hòa Congo
19 0 0.00 0 0.00
Tanzania
19 0 0.00 1 5.26
Djibouti
18 0 0.00 0 0.00
Saint Martin
18 1 5.56 2 11.11
Transnistria
18 0 0.00 0 0.00
Maldives
17 0 0.00 11 64.71
Nouvelle-Calédonie
15 0 0.00 0 0.00
Eritrea
15 0 0.00 0 0.00
Bahamas
14 0 0.00 0 0.00
Myanmar
14 0 0.00 0 0.00
Quần đảo Cayman
12 1 8.33 0 0.00
Guinea Xích Đạo
12 0 0.00 0 0.00
Mông Cổ
12 0 0.00 0 0.00
Curaçao
11 1 9.09 0 0.00
Dominica
11 0 0.00 0 0.00
Namibia
11 0 0.00 0 0.00
Greenland
10 0 0.00 2 20.00
Eswatini
9 0 0.00 0 0.00
Grenada
9 0 0.00 0 0.00
Saint Lucia
9 0 0.00 1 11.11
Syria
9 0 0.00 0 0.00
Guiné-Bissau
8 0 0.00 0 0.00
Guyana
8 1 12.50 0 0.00
Haiti
8 0 0.00 0 0.00
Lào
8 0 0.00 0 0.00
Libya
8 0 0.00 0 0.00
Mozambique
8 0 0.00 0 0.00
Seychelles
8 0 0.00 0 0.00
Suriname
8 0 0.00 0 0.00
Angola
7 0 0.00 0 0.00
Antigua và Barbuda
7 0 0.00 0 0.00
Gabon
7 1 14.29 0 0.00
Saint Kitts và Nevis
7 0 0.00 0 0.00
Zimbabwe
7 1 14.29 0 0.00
Bénin
6 0 0.00 0 0.00
Cabo Verde
6 1 16.67 0 0.00
Mauritanie
6 0 0.00 0 0.00
Saint Barthélemy
6 0 0.00 1 16.67
Sint Maarten
6 0 0.00 0 0.00
Sudan
6 1 16.67 0 0.00
Thành Vatican
6 0 0.00 0 0.00
Akrotiri và Dhekelia
5 0 0.00 0 0.00
Quần đảo Åland
5 0 0.00 0 0.00
Tchad
5 0 0.00 0 0.00
Fiji
5 0 0.00 0 0.00
Montserrat
5 0 0.00 0 0.00
Nepal
5 0 0.00 1 20.00
Quần đảo Turks và Caicos
5 0 0.00 0 0.00
Bhutan
4 0 0.00 0 0.00
Gambia
4 1 25.00 0 0.00
Nicaragua
4 1 25.00 0 0.00
Belize
3 0 0.00 0 0.00
Botswana
3 0 0.00 0 0.00
Cộng hòa Trung Phi
3 0 0.00 0 0.00
Liberia
3 0 0.00 0 0.00
Somalia
3 0 0.00 0 0.00
Anguilla
2 0 0.00 0 0.00
Quần đảo Virgin thuộc Anh
2 0 0.00 0 0.00
MS Zaandam
2 0 0.00 0 0.00
Quần đảo Bắc Mariana
2 0 0.00 0 0.00
Đông Timor
1 0 0.00 0 0.00
Papua New Guinea
1 0 0.00 0 0.00
St. Vincent và Grenadines
1 0 0.00 1 100.00

2. Danh sách các quốc gia mắc COVID-19 trên 1000 ca xếp theo tỷ lệ tử vong: Cập nhật đến 31/3/2020

Địa điểm[a] Xác nhận Tử vong Tỷ lệ tử vong (%) Hồi phục Tỷ lệ hồi phục (%)
Ý
101,739 11,591 11.39 14,620 14.37
Tây Ban Nha
87,956 7,716 8.77 16,780 19.08
Indonesia
1,414 122 8.63 75 5.30
Hà Lan
11,750 864 7.35 0 0.00
Iran
41,495 2,757 6.64 13,911 33.52
Pháp
40,174 2,606 6.49 7,202 17.93
Vương quốc Anh
22,141 1,408 6.36 135 0.61
Philippines
1,546 78 5.05 42 2.72
Tổng quốc gia và vùng lãnh thổ (211)[1] 784,716 37,639 4.80 165,370 21.07
Bỉ[4]
11,899 513 4.31 1,527 12.83
Trung Quốc đại lục[2][c]
81,470 3,304 4.06 75,770 93.00
Thụy Điển[6]
4,106 161 3.92 18 0.44
Hy Lạp[11]
1,212 43 3.55 52 4.29
Brasil
4,330 140 3.23 120 2.77
România
2,109 65 3.08 209 9.91
Ecuador
1,890 57 3.02 3 0.16
Nhật Bản
1,866 54 2.89 404 21.65
Đan Mạch[8]
2,755 77 2.79 0 0.00
Ấn Độ[10]
1,251 32 2.56 102 8.15
Panama
1,075 24 2.23 4 0.37
Thụy Sĩ[3]
15,923 354 2.22 2,105 13.22
Bồ Đào Nha
6,408 140 2.18 43 0.67
Hoa Kỳ[b]
163,479 3,146 1.92 5,604 3.43
Ireland
2,615 46 1.76 5 0.19
Hàn Quốc
9,786 162 1.66 5,408 55.26
Thổ Nhĩ Kỳ
10,827 168 1.55 162 1.50
Ba Lan
2,055 31 1.51 35 1.70
Malaysia
2,626 37 1.41 479 18.24
Canada
7,435 89 1.20 1,065 14.32
Pakistan
1,717 20 1.16 57 3.32
Áo
9,618 108 1.12 636 6.61
Luxembourg
1,988 22 1.11 40 2.01
Phần Lan
1,308 13 0.99 10 0.76
Đức
66,885 645 0.96 6,522 9.75
Cộng hòa Séc[7]
2,976 23 0.77 25 0.84
Na Uy
4,445 32 0.72 0 0.00
Thái Lan[9]
1,524 9 0.59 127 8.33
Ả Rập Xê Út
1,453 8 0.55 115 7.91
Nga[e]
1,836 9 0.49 66 3.59
Úc[5]
4,460 19 0.43 226 5.07
Israel
4,695 16 0.34 161 3.43
Chile[d]
2,139 7 0.33 75 3.51
Nam Phi
1,326 3 0.23 31 2.34
Iceland
1,020 2 0.20 135

3. Danh sách các quốc gia mắc COVID-19 trên 1000 ca xếp theo tỷ lệ hồi phục: Cập nhật đến 31/3/2020

Địa điểm[a] Xác nhận Tử vong Tỷ lệ tử vong (%) Hồi phục Tỷ lệ hồi phục (%)
Trung Quốc đại lục[2][c]
81,470 3,304 4.06 75,770 93.00
Hàn Quốc
9,786 162 1.66 5,408 55.26
Iran
41,495 2,757 6.64 13,911 33.52
Nhật Bản
1,866 54 2.89 404 21.65
Tổng quốc gia và vùng lãnh thổ (211)[1] 784,716 37,639 4.80 165,370 21.07
Tây Ban Nha
87,956 7,716 8.77 16,780 19.08
Malaysia
2,626 37 1.41 479 18.24
Pháp
40,174 2,606 6.49 7,202 17.93
Ý
101,739 11,591 11.39 14,620 14.37
Canada
7,435 89 1.20 1,065 14.32
Iceland
1,020 2 0.20 135 13.24
Thụy Sĩ[3]
15,923 354 2.22 2,105 13.22
Bỉ[4]
11,899 513 4.31 1,527 12.83
România
2,109 65 3.08 209 9.91
Đức
66,885 645 0.96 6,522 9.75
Thái Lan[9]
1,524 9 0.59 127 8.33
Ấn Độ[10]
1,251 32 2.56 102 8.15
Ả Rập Xê Út
1,453 8 0.55 115 7.91
Áo
9,618 108 1.12 636 6.61
Indonesia
1,414 122 8.63 75 5.30
Úc[5]
4,460 19 0.43 226 5.07
Hy Lạp[11]
1,212 43 3.55 52 4.29
Nga[e]
1,836 9 0.49 66 3.59
Chile[d]
2,139 7 0.33 75 3.51
Israel
4,695 16 0.34 161 3.43
Hoa Kỳ[b]
163,479 3,146 1.92 5,604 3.43
Pakistan
1,717 20 1.16 57 3.32
Brasil
4,330 140 3.23 120 2.77
Philippines
1,546 78 5.05 42 2.72
Nam Phi
1,326 3 0.23 31 2.34
Luxembourg
1,988 22 1.11 40 2.01
Ba Lan
2,055 31 1.51 35 1.70
Thổ Nhĩ Kỳ
10,827 168 1.55 162 1.50
Cộng hòa Séc[7]
2,976 23 0.77 25 0.84
Phần Lan
1,308 13 0.99 10 0.76
Bồ Đào Nha
6,408 140 2.18 43 0.67
Vương quốc Anh
22,141 1,408 6.36 135 0.61
Thụy Điển[6]
4,106 161 3.92 18 0.44
Panama
1,075 24 2.23 4 0.37
Ireland
2,615 46 1.76 5 0.19
Ecuador
1,890 57 3.02 3 0.16
Hà Lan
11,750 864 7.35 0 0.00
Đan Mạch[8]
2,755 77 2.79 0 0.00
Na Uy
4,445 32 0.72 0 0.00

Viet’s Post

Tham khảo:

  1. ^ [Số ca nhiễm virus corona COVID-19 trên toàn cầu trên trang web chính thức của Tổ chức Y tế Thế giới] |dịch tựa đề= cần |tựa đề= (trợ giúp). https://www.who.int/. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2020.
  2. ^ “截至3月7日24时新型冠状病毒肺炎疫情最新情况” [Cập nhật về đợt bùng phát virus corona vào lúc 24:00 ngày 7 tháng 3]. 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  3. ^ “Swiss death toll from new coronavirus rises to two” [Số ca tử vong do virus corona tại Thụy Sĩ tăng lên hai]. 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  4. ^ “31 nieuwe besmettingen met het coronavirus covid-19” [31 ca nhiễm COVID-19 mới] (bằng tiếng Hà Lan). 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  5. ^ “Coronavirus: Infected WA woman attended Beethoven performance” [Virus corona: Người phụ nữ WA bị nhiễm dự buổi biểu điễn Beethoven]. The Australian. 8 tháng 3 năm 2020.
  6. ^ “Senaste nytt om coronaviruset” [Tin tức mới nhất về virus corona]. SVT Nyheter (bằng tiếng Thụy Điển). 24 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  7. ^ “Počet nakažených koronavirem stoupl na 31. Babiš oznámil další tři případy” [Số ca nhiễm virus corona tăng lên 31. Babiš xác nhận thêm ba ca]. iDNES.cz (bằng tiếng Séc). 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  8. ^ “Seneste tal på COVID-19 i Danmark” [Số liệu mới nhất cho COVID-19 tại Đan Mạch]. Styrelsen for Patientsikkerhed (Bộ Y tế) (bằng tiếng Đan Mạch). 7 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2020.
  9. ^ “โรคติดเชื้อไวรัสโคโรนาสายพันธุ์ใหม่ 2019”. Home | กรมควบคุมโรค (bằng tiếng Thái). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  10. ^ “Tamil Nadu reports second case of coronavirus, total 40 infected in India” [Tamil Nadu xác nhận ca nhiễm COVID-19 thứ hai, tổng cộng 40 ca tại Ấn Độ]. Hindustan Times. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  11. ^ “Greece Announces New Emergency Measures, as Coronavirus Cases Rise to 73” [Hy Lạp đưa ra biện pháp khẩn cấp mới với số ca nhiễm COVID-19 tăng lên 73]. GreekReporter.com. 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  12. ^ “Updates on COVID-19 (Coronavirus Disease 2019) Local Situation” [Cập nhân COVID-19 Tình hình địa phương]. 7 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  13. ^ Michael, Maggie; Magdy, Samy (7 tháng 3 năm 2020). “Egypt says cruise ship quarantined over new virus cluster” [Ai Cập cách ly du thuyền vì lo ngại cụm virus mới]. Associated Press. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  14. ^ “Coronavirus : un nouveau cas confirmé en Algérie” [Virus corona: một ca nhiễm mới được xác nhận tại Algeria]. TSA (bằng tiếng Pháp). 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  15. ^ “TRANG TIN VỀ DỊCH BỆNH VIÊM ĐƯỜNG HÔ HẤP CẤP COVID-19 CỦA BỘ Y TẾ VIỆT NAM”. Bộ Y Tế VN. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2020.

FDA vừa chấp thuận xét nghiệm COVID-19 trong 5 phút

Trong những tuần gần đây, Mỹ đã phải vật lộn để cung cấp đủ các xét nghiệm để phát hiện coronavirus. Tuy nhiên, bây giờ, điều này có thể thay đổi nhờ sự chấp thuận của FDA về một thiết bị thử nghiệm nhanh của Phòng thí nghiệm Abbott có khả năng cho biết nếu ai đó bị nhiễm vi rút chỉ trong năm phút.

John Frels, phó chủ tịch nghiên cứu và phát triển tại Abbott Diagnostics, cho biết điều này thực sự sẽ mang đến một cơ hội to lớn cho những người chăm sóc tuyến đầu, những người phải chẩn đoán nhiều bệnh nhiễm trùng, để thu hẹp khoảng cách với thử nghiệm của chúng tôi … Một phòng khám sẽ có thể nhanh chóng đưa ra kết quả đó, trong khi bệnh nhân đang chờ đợi.

Để làm xét nghiệm, các bác sĩ phải lấy một miếng gạc từ mũi bệnh nhân hoặc sau cổ họng của họ. Sau đó trộn tăm bông vào dung dịch hóa học để phá virus và giải phóng RNA của nó để định danh, sau đó nó được đưa vào hệ thống ID Now, một hộp có trọng lượng dưới 7 pound. Hộp này sau đó xác định và đọc các chuỗi chọn lọc có liên quan đến bộ gen coronavirus. Chỉ mất năm phút để cung cấp kết quả tích cực khi bệnh nhân có tải lượng virus cao, một phân tích kỹ lưỡng hơn để loại trừ virus hoàn toàn mất đến 13 phút.

Abbott Diagnostics đã nói rằng họ sẽ có thể thực hiện 50.000 xét nghiệm này mỗi ngày kể từ ngày 1 tháng 4 và chúng có thể được sử dụng trong thực tế ở bất kỳ cơ sở chăm sóc sức khỏe nào. Do đó, chính phủ Hoa Kỳ ban đầu có kế hoạch đưa họ đến nơi cần thiết nhất – đặc biệt là trong các phòng cấp cứu bệnh viện, phòng khám chăm sóc khẩn cấp và văn phòng bác sĩ.

Tin tức này được đưa ra sau khi FDA đã phê duyệt hệ thống m2000 RealTime của Abbott, một kỹ thuật chẩn đoán khác, mặc dù mất nhiều thời gian hơn để tạo ra kết quả, có thể có tốc độ xét nghiệm nhanh hơn nhiều: lên tới 1 triệu xét nghiệm mỗi tuần. Hai hệ thống được thực hiện cùng nhau có nghĩa là Abbott sẽ sớm có thể tạo ra ít nhất 5 triệu xét nghiệm mỗi tháng.

Trong khi đó, các công ty khác cũng đang nỗ lực để cung cấp các công cụ chẩn đoán cho coronavirus. Henry Schein Inc, chẳng hạn, đã công bố về sự sẵn có của xét nghiệm kháng thể ngay tại điểm chăm sóc. Tìm kiếm bằng chứng cho thấy hệ thống miễn dịch của một người đã chống lại virus, xét nghiệm máu cho kết quả trong vòng 15 phút, mặc dù nó có thể được sử dụng để phát hiện các bệnh nhiễm trùng hiện tại.

Viet’s Post (Theo Labroots, Bloomberg, Chicago BusinessCNN)

Danh sách các quốc gia mắc COVID-19: Cập nhật đến 27/3/2020

1. Danh sách các quốc gia xếp theo số ca mắc bệnh (Tính đến ngày 27 tháng 3 năm 2020)

Quốc giaXác nhậnTử vongTỷ lệ tử vong (%)Hồi phụcTỷ lệ hồi phục (%)
Toàn cầu (208)[1]549,47424,8834.53128,70123.42
Hoa Kỳ[b][1]86,0431,3041.527530.88
Trung Quốc đại lục[1][2][c]81,3403,2924.0574,58891.70
Ý[1]80,5898,21510.1910,36112.86
Tây Ban Nha[1]64,0594,8587.589,35714.61
Đức[1]45,1892760.615,67812.57
Iran[1]32,3322,3787.3511,13334.43
Pháp[d][1]29,1551,6965.823,28111.25
Thụy Sĩ[1][3]11,9511971.658977.51
Vương quốc Anh[1][e]11,6605784.961401.20
Hàn Quốc[1]9,3321391.494,52848.52
Hà Lan[f][1]7,4594355.8300.00
Áo[1]7,317580.791121.53
Bỉ[4]7,2842893.9785811.78
Canada[1]4,043390.962285.64
Thổ Nhĩ Kỳ[1]3,629752.07260.72
Bồ Đào Nha[1]3,544601.69431.21
Na Uy[1]3,423150.4400.00
Úc[5]3,180130.411183.71
Israel[1]3,035100.33792.60
Brasil[1]2,985772.5860.20
Thụy Điển[6]2,858772.69160.56
Đan Mạch[7][g]2,163411.9000.00
Malaysia[1]2,161261.2025911.99
Cộng hòa Séc[8]2,06290.44100.48
Ireland[1]1,819191.0450.27
Luxembourg[1]1,45390.6260.41
Ecuador[1]1,403342.4230.21
Nhật Bản[1]1,387463.3235925.88
Chile[1]1,30640.31221.68
România[1]1,292241.861158.90
Pakistan[1]1,25290.72231.84
Ba Lan[1]1,244161.2960.48
Thái Lan[1][9]1,13650.44978.54
Indonesia[1]1,046878.32464.40
Nga[1][h]1,03630.29454.34
Ả Rập Xê Út[1]1,01230.30333.26
Phần Lan[i][1]95850.52101.04
Nam Phi[1]92700.00121.29
Hy Lạp[10]892262.91364.04
Philippines[1]803546.72313.86
Iceland[1]80220.258210.22
Ấn Độ[1][11]743182.42476.33
Diamond Princess[1]712111.5460184.41
Singapore[1][12]68320.2917225.18
Panama[1]67491.3420.30
Argentina[1]589122.04518.66
México[1]58581.3740.68
Peru[1]58091.5540.69
Estonia[1]57510.17111.91
Slovenia[1]56261.07101.78
Croatia[1]55130.54376.72
Qatar[1]54900.00417.47
Hồng Kông[1]51840.7711121.43
Ai Cập[1][13][j]495244.8510220.61
Colombia[1]49161.2281.63
Cộng hòa Dominica[1]488102.0530.61
Bahrain[1]46640.8622748.71
Serbia[1]45771.53153.28
Liban[1]39161.53235.88
Iraq[1]382369.4210527.49
New Zealand[1]36800.003710.05
Algérie[1][14]367256.81246.54
Litva[1]34541.1610.29
UAE[1]33320.605215.62
Armenia[1]32910.30185.47
Hungary[1]300103.333411.33
Latvia[1]28000.0010.36
Bulgaria[1]27631.0982.90
Maroc[1]275103.6482.91
Đài Loan[1]26720.753011.24
Uruguay[1]23800.0000.00
Costa Rica[1]23120.8720.87
Tunisia[1]22762.6420.88
Bosna và Hercegovina[1]22631.3352.21
Slovakia[1]22600.0073.10
Kuwait[1]22500.005725.33
Andorra[1]22431.3431.34
Bắc Macedonia[1]21931.3731.37
San Marino[1]218219.6352.29
Ukraina[1]21852.2941.83
Jordan[1]21200.0020.94
Albania[1]18684.303116.67
Moldova[k][1]17710.5621.13
Việt Nam[1][15]16300.002012.27
Burkina Faso[1]15274.61106.58
Síp[1]14632.0532.05
Malta[1]13400.0021.49
Ghana[1]13243.0300.00
Oman[1]13100.002317.56
Kazakhstan[1]12510.8000.00
Azerbaijan[1]12232.461512.30
Sénégal[1]11900.00119.24
Brunei[1]11400.0054.39
Venezuela[1]10710.933128.97
Sri Lanka[1]10600.0065.66
Campuchia[1]9800.001111.22
Bờ Biển Ngà[1]9600.0011.04
Afghanistan[1]9444.2622.13
Belarus[1][16]9400.003234.04
Palestine[1]9111.101718.68
Uzbekistan[1]8300.0000.00
Gruzia[1]8100.001316.05
Cameroon[1]7511.3322.67
Kosovo[1]7111.4100.00
Montenegro[1]7011.4300.00
Honduras[1]6811.4700.00
Cuba[l][1]6711.4900.00
Nigeria[1]6511.5434.62
Trinidad và Tobago[1]6511.5400.00
Bolivia[1]6100.0000.00
Kyrgyzstan[1]5800.0000.00
Bắc Síp[1]5700.002950.88
Liechtenstein[1]5600.0000.00
Mauritius[1]5223.8500.00
Paraguay[1]5235.7700.00
CHDC Congo[1]5147.8423.92
Rwanda[1]5000.0000.00
Bangladesh[1]48510.421122.92
Ma Cao[1]3300.001030.30
Monaco[1]3300.0013.03
Kenya[1]3113.2313.23
Jamaica[1]2613.8527.69
Togo[1]2500.0014.00
Barbados[1]2400.0000.00
Guatemala[1]2414.17416.67
Madagascar[1]2400.0000.00
Uganda[1]1800.0000.00
Ethiopia[1]1600.0000.00
Zambia[1]1600.0000.00
El Salvador[1]1300.0000.00
Maldives[1]1300.00323.08
Tanzania[1]1300.0000.00
Guinea Xích Đạo[1]1200.0000.00
Djibouti[1]1100.0000.00
Dominica[1]1100.0000.00
Mông Cổ[1]1100.0000.00
Niger[1]10110.0000.00
Bahamas[1]900.0000.00
Guinée[1]800.00112.50
Haiti[1]800.0000.00
Namibia[1]800.0000.00
Suriname[1]800.0000.00
Bénin[1]700.0000.00
Gabon[1]7114.2900.00
Grenada[1]700.0000.00
Mozambique[1]700.0000.00
Seychelles[1]700.0000.00
Eritrea[1]600.0000.00
Eswatini[1]600.0000.00
Lào[1]600.0000.00
Fiji[1]500.0000.00
Guyana[1]5120.0000.00
Syria[1]500.0000.00
Zimbabwe[1]5120.0000.00
Angola[1]400.0000.00
Cabo Verde[1]4125.0000.00
Cộng hòa Congo[1]400.0000.00
Mali[1]400.0000.00
Thành Vatican[1]400.0000.00
Antigua và Barbuda[1]300.0000.00
Cộng hòa Trung Phi[1]300.0000.00
Tchad[1]300.0000.00
Gambia[1]3133.3300.00
Liberia[1]300.0000.00
Mauritanie[1]300.0000.00
Myanmar[1]300.0000.00
Nepal[1]300.00133.33
Saint Lucia[1]300.0000.00
Somalia[1]300.0000.00
Sudan[1]3133.3300.00
Belize[1]200.0000.00
Bhutan[1]200.0000.00
Guiné-Bissau[1]200.0000.00
Nicaragua[1]200.0000.00
Saint Kitts và Nevis[1]200.0000.00
Đông Timor[1]100.0000.00
Libya[1]100.0000.00
Papua New Guinea[1]100.0000.00
St Vincent và Grenadines[1]100.0000.00

2. Danh sách các quốc gia xếp theo tỷ lệ tử vong (Tính đến ngày 27 tháng 3 năm 2020)

Quốc giaXác nhậnTử vongTỷ lệ tử vong (%)Hồi phụcTỷ lệ hồi phục (%)
Toàn cầu (208)[1]549,47424,8834.53128,70123.42
Gambia[1]3133.3300.00
Sudan[1]3133.3300.00
Cabo Verde[1]4125.0000.00
Guyana[1]5120.0000.00
Zimbabwe[1]5120.0000.00
Gabon[1]7114.2900.00
Bangladesh[1]48510.421122.92
Ý[1]80,5898,21510.1910,36112.86
Niger[1]10110.0000.00
San Marino[1]218219.6352.29
Iraq[1]382369.4210527.49
Indonesia[1]1,046878.32464.40
CHDC Congo[1]5147.8423.92
Tây Ban Nha[1]64,0594,8587.589,35714.61
Iran[1]32,3322,3787.3511,13334.43
Algérie[1][14]367256.81246.54
Philippines[1]803546.72313.86
Hà Lan[f][1]7,4594355.8300.00
Pháp[d][1]29,1551,6965.823,28111.25
Paraguay[1]5235.7700.00
Vương quốc Anh[1][e]11,6605784.961401.20
Ai Cập[1][13][j]495244.8510220.61
Burkina Faso[1]15274.61106.58
Albania[1]18684.303116.67
Afghanistan[1]9444.2622.13
Guatemala[1]2414.17416.67
Trung Quốc đại lục[1][2][c]81,3403,2924.0574,58891.70
Bỉ[4]7,2842893.9785811.78
Mauritius[1]5223.8500.00
Jamaica[1]2613.8527.69
Maroc[1]275103.6482.91
Hungary[1]300103.333411.33
Nhật Bản[1]1,387463.3235925.88
Kenya[1]3113.2313.23
Ghana[1]13243.0300.00
Hy Lạp[10]892262.91364.04
Thụy Điển[6]2,858772.69160.56
Tunisia[1]22762.6420.88
Brasil[1]2,985772.5860.20
Azerbaijan[1]12232.461512.30
Ecuador[1]1,403342.4230.21
Ấn Độ[1][11]743182.42476.33
Ukraina[1]21852.2941.83
Thổ Nhĩ Kỳ[1]3,629752.07260.72
Síp[1]14632.0532.05
Cộng hòa Dominica[1]488102.0530.61
Argentina[1]589122.04518.66
Đan Mạch[7][g]2,163411.9000.00
România[1]1,292241.861158.90
Bồ Đào Nha[1]3,544601.69431.21
Thụy Sĩ[1][3]11,9511971.658977.51
Peru[1]58091.5540.69
Diamond Princess[1]712111.5460184.41
Nigeria[1]6511.5434.62
Trinidad và Tobago[1]6511.5400.00
Liban[1]39161.53235.88
Serbia[1]45771.53153.28
Hoa Kỳ[b][1]86,0431,3041.527530.88
Cuba[l][1]6711.4900.00
Hàn Quốc[1]9,3321391.494,52848.52
Honduras[1]6811.4700.00
Montenegro[1]7011.4300.00
Kosovo[1]7111.4100.00
Bắc Macedonia[1]21931.3731.37
México[1]58581.3740.68
Andorra[1]22431.3431.34
Panama[1]67491.3420.30
Cameroon[1]7511.3322.67
Bosna và Hercegovina[1]22631.3352.21
Ba Lan[1]1,244161.2960.48
Colombia[1]49161.2281.63
Malaysia[1]2,161261.2025911.99
Litva[1]34541.1610.29
Palestine[1]9111.101718.68
Bulgaria[1]27631.0982.90
Slovenia[1]56261.07101.78
Ireland[1]1,819191.0450.27
Canada[1]4,043390.962285.64
Venezuela[1]10710.933128.97
Costa Rica[1]23120.8720.87
Bahrain[1]46640.8622748.71
Kazakhstan[1]12510.8000.00
Áo[1]7,317580.791121.53
Hồng Kông[1]51840.7711121.43
Đài Loan[1]26720.753011.24
Pakistan[1]1,25290.72231.84
Luxembourg[1]1,45390.6260.41
Đức[1]45,1892760.615,67812.57
UAE[1]33320.605215.62
Moldova[k][1]17710.5621.13
Croatia[1]55130.54376.72
Phần Lan[i][1]95850.52101.04
Thái Lan[1][9]1,13650.44978.54
Na Uy[1]3,423150.4400.00
Cộng hòa Séc[8]2,06290.44100.48
Úc[5]3,180130.411183.71
Israel[1]3,035100.33792.60
Chile[1]1,30640.31221.68
Armenia[1]32910.30185.47
Ả Rập Xê Út[1]1,01230.30333.26
Singapore[1][12]68320.2917225.18
Nga[1][h]1,03630.29454.34
Iceland[1]80220.258210.22
Estonia[1]57510.17111.91
Nam Phi[1]92700.00121.29
Qatar[1]54900.00417.47
New Zealand[1]36800.003710.05
Latvia[1]28000.0010.36
Uruguay[1]23800.0000.00
Slovakia[1]22600.0073.10
Kuwait[1]22500.005725.33
Jordan[1]21200.0020.94
Việt Nam[1][15]16300.002012.27
Malta[1]13400.0021.49
Oman[1]13100.002317.56
Sénégal[1]11900.00119.24
Brunei[1]11400.0054.39
Sri Lanka[1]10600.0065.66
Campuchia[1]9800.001111.22
Bờ Biển Ngà[1]9600.0011.04
Belarus[1][16]9400.003234.04
Uzbekistan[1]8300.0000.00
Gruzia[1]8100.001316.05
Bolivia[1]6100.0000.00
Kyrgyzstan[1]5800.0000.00
Bắc Síp[1]5700.002950.88
Liechtenstein[1]5600.0000.00
Rwanda[1]5000.0000.00
Ma Cao[1]3300.001030.30
Monaco[1]3300.0013.03
Togo[1]2500.0014.00
Barbados[1]2400.0000.00
Madagascar[1]2400.0000.00
Uganda[1]1800.0000.00
Ethiopia[1]1600.0000.00
Zambia[1]1600.0000.00
El Salvador[1]1300.0000.00
Maldives[1]1300.00323.08
Tanzania[1]1300.0000.00
Guinea Xích Đạo[1]1200.0000.00
Djibouti[1]1100.0000.00
Dominica[1]1100.0000.00
Mông Cổ[1]1100.0000.00
Bahamas[1]900.0000.00
Guinée[1]800.00112.50
Haiti[1]800.0000.00
Namibia[1]800.0000.00
Suriname[1]800.0000.00
Bénin[1]700.0000.00
Grenada[1]700.0000.00
Mozambique[1]700.0000.00
Seychelles[1]700.0000.00
Eritrea[1]600.0000.00
Eswatini[1]600.0000.00
Lào[1]600.0000.00
Fiji[1]500.0000.00
Syria[1]500.0000.00
Angola[1]400.0000.00
Cộng hòa Congo[1]400.0000.00
Mali[1]400.0000.00
Thành Vatican[1]400.0000.00
Antigua và Barbuda[1]300.0000.00
Cộng hòa Trung Phi[1]300.0000.00
Tchad[1]300.0000.00
Liberia[1]300.0000.00
Mauritanie[1]300.0000.00
Myanmar[1]300.0000.00
Nepal[1]300.00133.33
Saint Lucia[1]300.0000.00
Somalia[1]300.0000.00
Belize[1]200.0000.00
Bhutan[1]200.0000.00
Guiné-Bissau[1]200.0000.00
Nicaragua[1]200.0000.00
Saint Kitts và Nevis[1]200.0000.00
Đông Timor[1]100.0000.00
Libya[1]100.0000.00
Papua New Guinea[1]100.0000.00
St Vincent và Grenadines[1]100.0000.00

3. Danh sách các quốc gia xếp theo tỷ lệ hồi phục (Tính đến ngày 27 tháng 3 năm 2020)

Quốc giaXác nhậnTử vongTỷ lệ tử vong (%)Hồi phụcTỷ lệ hồi phục (%)
Toàn cầu (208)[1]549,47424,8834.53128,70123.42
Trung Quốc đại lục[1][2][c]81,3403,2924.0574,58891.70
Diamond Princess[1]712111.5460184.41
Bắc Síp[1]5700.002950.88
Bahrain[1]46640.8622748.71
Hàn Quốc[1]9,3321391.494,52848.52
Iran[1]32,3322,3787.3511,13334.43
Belarus[1][16]9400.003234.04
Ma Cao,Nepal Nepal[1]300.00133.33
Ma Cao[1]3300.001030.30
Venezuela[1]10710.933128.97
Iraq[1]382369.4210527.49
Nhật Bản[1]1,387463.3235925.88
Kuwait[1]22500.005725.33
Singapore[1][12]68320.2917225.18
Maldives[1]1300.00323.08
Bangladesh[1]48510.421122.92
Hồng Kông[1]51840.7711121.43
Ai Cập[1][13][j]495244.8510220.61
Palestine[1]9111.101718.68
Oman[1]13100.002317.56
Albania[1]18684.303116.67
Guatemala[1]2414.17416.67
Gruzia[1]8100.001316.05
UAE[1]33320.605215.62
Tây Ban Nha[1]64,0594,8587.589,35714.61
Ý[1]80,5898,21510.1910,36112.86
Đức[1]45,1892760.615,67812.57
Guinée[1]800.00112.50
Azerbaijan[1]12232.461512.30
Việt Nam[1][15]16300.002012.27
Malaysia[1]2,161261.2025911.99
Bỉ[4]7,2842893.9785811.78
Hungary[1]300103.333411.33
Pháp[d][1]29,1551,6965.823,28111.25
Đài Loan[1]26720.753011.24
Campuchia[1]9800.001111.22
Iceland[1]80220.258210.22
New Zealand[1]36800.003710.05
Sénégal[1]11900.00119.24
România[1]1,292241.861158.90
Argentina[1]589122.04518.66
Thái Lan[1][9]1,13650.44978.54
Jamaica[1]2613.8527.69
Thụy Sĩ[1][3]11,9511971.658977.51
Qatar[1]54900.00417.47
Croatia[1]55130.54376.72
Burkina Faso[1]15274.61106.58
Algérie[1][14]367256.81246.54
Ấn Độ[1][11]743182.42476.33
Liban[1]39161.53235.88
Sri Lanka[1]10600.0065.66
Canada[1]4,043390.962285.64
Armenia[1]32910.30185.47
Nigeria[1]6511.5434.62
Indonesia[1]1,046878.32464.40
Brunei[1]11400.0054.39
Nga[1][h]1,03630.29454.34
Hy Lạp[10]892262.91364.04
Togo[1]2500.0014.00
CHDC Congo[1]5147.8423.92
Philippines[1]803546.72313.86
Úc[5]3,180130.411183.71
Serbia[1]45771.53153.28
Ả Rập Xê Út[1]1,01230.30333.26
Kenya[1]3113.2313.23
Slovakia[1]22600.0073.10
Monaco[1]3300.0013.03
Maroc[1]275103.6482.91
Bulgaria[1]27631.0982.90
Cameroon[1]7511.3322.67
Israel[1]3,035100.33792.60
San Marino[1]218219.6352.29
Bosna và Hercegovina[1]22631.3352.21
Afghanistan[1]9444.2622.13
Síp[1]14632.0532.05
Estonia[1]57510.17111.91
Pakistan[1]1,25290.72231.84
Ukraina[1]21852.2941.83
Slovenia[1]56261.07101.78
Chile[1]1,30640.31221.68
Colombia[1]49161.2281.63
Áo[1]7,317580.791121.53
Malta[1]13400.0021.49
Bắc Macedonia[1]21931.3731.37
Andorra[1]22431.3431.34
Nam Phi[1]92700.00121.29
Bồ Đào Nha[1]3,544601.69431.21
Vương quốc Anh[1][e]11,6605784.961401.20
Moldova[k][1]17710.5621.13
Phần Lan[i][1]95850.52101.04
Bờ Biển Ngà[1]9600.0011.04
Jordan[1]21200.0020.94
Tunisia[1]22762.6420.88
Hoa Kỳ[b][1]86,0431,3041.527530.88
Costa Rica[1]23120.8720.87
Thổ Nhĩ Kỳ[1]3,629752.07260.72
Peru[1]58091.5540.69
México[1]58581.3740.68
Cộng hòa Dominica[1]488102.0530.61
Thụy Điển[6]2,858772.69160.56
Cộng hòa Séc[8]2,06290.44100.48
Ba Lan[1]1,244161.2960.48
Luxembourg[1]1,45390.6260.41
Latvia[1]28000.0010.36
Panama[1]67491.3420.30
Litva[1]34541.1610.29
Ireland[1]1,819191.0450.27
Ecuador[1]1,403342.4230.21
Brasil[1]2,985772.5860.20
Gambia[1]3133.3300.00
Sudan[1]3133.3300.00
Cabo Verde[1]4125.0000.00
Guyana[1]5120.0000.00
Zimbabwe[1]5120.0000.00
Gabon[1]7114.2900.00
Niger[1]10110.0000.00
Hà Lan[f][1]7,4594355.8300.00
Paraguay[1]5235.7700.00
Mauritius[1]5223.8500.00
Ghana[1]13243.0300.00
Đan Mạch[7][g]2,163411.9000.00
Trinidad và Tobago[1]6511.5400.00
Cuba[l][1]6711.4900.00
Honduras[1]6811.4700.00
Montenegro[1]7011.4300.00
Kosovo[1]7111.4100.00
Kazakhstan[1]12510.8000.00
Na Uy[1]3,423150.4400.00
Uruguay[1]23800.0000.00
Uzbekistan[1]8300.0000.00
Bolivia[1]6100.0000.00
Kyrgyzstan[1]5800.0000.00
Liechtenstein[1]5600.0000.00
Rwanda[1]5000.0000.00
Barbados[1]2400.0000.00
Madagascar[1]2400.0000.00
Uganda[1]1800.0000.00
Ethiopia[1]1600.0000.00
Zambia[1]1600.0000.00
El Salvador[1]1300.0000.00
Tanzania[1]1300.0000.00
Guinea Xích Đạo[1]1200.0000.00
Djibouti[1]1100.0000.00
Dominica[1]1100.0000.00
Mông Cổ[1]1100.0000.00
Bahamas[1]900.0000.00
Haiti[1]800.0000.00
Namibia[1]800.0000.00
Suriname[1]800.0000.00
Bénin[1]700.0000.00
Grenada[1]700.0000.00
Mozambique[1]700.0000.00
Seychelles[1]700.0000.00
Eritrea[1]600.0000.00
Eswatini[1]600.0000.00
Lào[1]600.0000.00
Fiji[1]500.0000.00
Syria[1]500.0000.00
Angola[1]400.0000.00
Cộng hòa Congo[1]400.0000.00
Mali[1]400.0000.00
Thành Vatican[1]400.0000.00
Antigua và Barbuda[1]300.0000.00
Cộng hòa Trung Phi[1]300.0000.00
Tchad[1]300.0000.00
Liberia[1]300.0000.00
Mauritanie[1]300.0000.00
Myanmar[1]300.0000.00
Saint Lucia[1]300.0000.00
Somalia[1]300.0000.00
Belize[1]200.0000.00
Bhutan[1]200.0000.00
Guiné-Bissau[1]200.0000.00
Nicaragua[1]200.0000.00
Saint Kitts và Nevis[1]200.0000.00
Đông Timor[1]100.0000.00
Libya[1]100.0000.00
Papua New Guinea[1]100.0000.00
St Vincent và Grenadines[1]100.0000.00

Viet’s Post

Tài liệu tham khảo

  1. ^ “Coronavirus COVID-19 Global Cases by Johns Hopkins CSSE” [Số ca nhiễm virus corona COVID-19 trên toàn cầu bởi John Hopkins CSSE]. gisanddata.maps.arcgis.com. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2020.
  2. ^ “截至3月7日24时新型冠状病毒肺炎疫情最新情况” [Cập nhật về đợt bùng phát virus corona vào lúc 24:00 ngày 7 tháng 3]. 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  3. ^ “Swiss death toll from new coronavirus rises to two” [Số ca tử vong do virus corona tại Thụy Sĩ tăng lên hai]. 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  4. ^ “31 nieuwe besmettingen met het coronavirus covid-19” [31 ca nhiễm COVID-19 mới] (bằng tiếng Hà Lan). 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  5. ^ “Coronavirus: Infected WA woman attended Beethoven performance” [Virus corona: Người phụ nữ WA bị nhiễm dự buổi biểu điễn Beethoven]. The Australian. 8 tháng 3 năm 2020.
  6. ^ “Senaste nytt om coronaviruset” [Tin tức mới nhất về virus corona]. SVT Nyheter (bằng tiếng Thụy Điển). 24 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  7. ^ “Seneste tal på COVID-19 i Danmark” [Số liệu mới nhất cho COVID-19 tại Đan Mạch]. Styrelsen for Patientsikkerhed (Bộ Y tế) (bằng tiếng Đan Mạch). 7 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2020.
  8. ^ “Počet nakažených koronavirem stoupl na 31. Babiš oznámil další tři případy” [Số ca nhiễm virus corona tăng lên 31. Babiš xác nhận thêm ba ca]. iDNES.cz (bằng tiếng Séc). 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  9. ^ “โรคติดเชื้อไวรัสโคโรนาสายพันธุ์ใหม่ 2019”. Home | กรมควบคุมโรค (bằng tiếng Thái). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  10. ^ “Greece Announces New Emergency Measures, as Coronavirus Cases Rise to 73” [Hy Lạp đưa ra biện pháp khẩn cấp mới với số ca nhiễm COVID-19 tăng lên 73]. GreekReporter.com. 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  11. ^ “Tamil Nadu reports second case of coronavirus, total 40 infected in India” [Tamil Nadu xác nhận ca nhiễm COVID-19 thứ hai, tổng cộng 40 ca tại Ấn Độ]. Hindustan Times. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  12. ^ “Updates on COVID-19 (Coronavirus Disease 2019) Local Situation” [Cập nhân COVID-19 Tình hình địa phương]. 7 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  13. ^ Michael, Maggie; Magdy, Samy (7 tháng 3 năm 2020). “Egypt says cruise ship quarantined over new virus cluster” [Ai Cập cách ly du thuyền vì lo ngại cụm virus mới]. Associated Press. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.

Tin tốt về COVID-19 (Phần 1): virus không đột biến nhiều nên vắc xin có thể tồn tại suốt đời

Vi rút corona mới (SARS-nCov-2) dường như có tỷ lệ đột biến rất thấp do có bộ máy di truyền sửa lỗi, mặc dù thực tế là nó đã lây nhiễm hơn 450.000 người. Đây là kết quả nghiên cứu hơn 1.000 mẫu virus từ khắp nơi trên thế giới. Điều này có nghĩa là có một cơ hội tốt cho vắc xin – khi nó đã sẵn sàng – sẽ chỉ phải dùng một lần, có thể mang lại khả năng miễn dịch suốt đời.

Về mặt sinh học, vi rút là một dạng sống (không phải cơ thể sống) vì chúng cần ký sinh trùng bắt buộc trong tế bào sinh vật chủ để nhân lên. Mặc dù không có khả năng tự sao chép, vi rút phải chịu áp lực tiến hóa tương tự của chọn lọc tự nhiên như các cơ thể sống.

Trò chơi cuối cùng của bất kỳ loại virus nào là trốn tránh hệ thống miễn dịch của vật chủ và lây nhiễm giữa các tế bào để điều khiển bộ máy di động của chúng cho mục đích riêng của chúng: sao chép và lây nhiễm vật chủ mới.

Bất cứ khi nào virus tạo ra một bản sao của vật liệu di truyền của nó, thì có khả năng xảy ra lỗi nhỏ, gây ra đột biến. Một số lỗi này thực sự hữu ích, cho phép từ một vật chủ có thể lây nhiễm sang nhiều vật chủ hơn hoặc có lẽ tới một loại vật chủ hoàn toàn khác, vì thế cho phép virus “nhảy” giữa các loài.

Dưới áp lực của chọn lọc tự nhiên, một số đột biến được giữ và truyền sang thế hệ tiếp theo nếu virus thành công với trò chơi này. Nếu đột biến cản trở tiềm năng lây nhiễm của virus, quần thể đột biến cuối cùng sẽ chết đi, nhường chỗ cho các bản sao thích nghi tốt hơn.

Ví dụ, hãy nghĩ về một loại virus đã đột biến để khi nó lây nhiễm sang người, người nhiễm sẽ chết trong vài giờ. Mặc dù điều này nghe có vẻ như một cơn ác mộng, nhưng kiểu tử vong này sẽ khiến virus cực kỳ kém hiệu quả. Bằng cách giết chết vật chủ của nó quá nhanh, đột biến không kịp có đủ thời gian để lan sang người khác. Vì virus không thể tự sao chép, nên nó sẽ bị xóa sổ, và vật liệu di truyền của nó biến mất (bị phân hủy).

Các virus khác khó khăn hơn nhiều. Các virus dựa trên RNA (chứ không phải DNA), chẳng hạn như các virus gây bệnh cúm, AIDS và thậm chí COVID-19, thường biến đổi nhanh vì các lỗi phát sinh thường xuyên hơn trong quá trình sao chép gen so với virus DNA.

Chẳng hạn, đại dịch trước đó từ năm 2009 là do cúm A H1N1 (cúm lợn). Virus đã đột biến rất nhiều kể từ đó và các kháng thể được kích hoạt khi tiếp xúc với các chủng cúm cũ hơn sẽ không nhận ra chủng mới này. Quả nhiên, vật chủ nhiễm sẽ bị bệnh.

Điều này giải thích tại sao các nhà khoa học phải sửa đổi vắc xin cúm liên tục và chúng ta cần tiêm phòng cúm mỗi mùa để bảo vệ chính mình. Một số nhà nghiên cứu đã bày tỏ lo ngại rằng coronavirus mới cũng có thể trở thành theo mùa, có nghĩa là chúng ta cần một loại vắc xin hàng năm cho nó – giống như chúng ta hiện đang bị cúm.

May mắn thay, SARS-CoV-2 dường như có tỷ lệ đột biến rất thấp do có bộ máy di truyền sửa lỗi. Phát biểu với Washington Post, Peter Thielen, nhà di truyền học phân tử ở Johns Hopkins, cho biết các nhà khoa học đã nghiên cứu hơn 1.000 mẫu virus từ khắp nơi trên thế giới. Họ chỉ tìm thấy 4 đến 10 sự khác biệt về gen giữa các chủng người nhiễm bệnh ở Hoa Kỳ và những người đến từ Vũ Hán, Trung Quốc, tâm chấn của đại dịch. Một số ít đột biến vì đã vượt qua một số lượng lớn người. Tại thời điểm này, tỷ lệ đột biến của virus sẽ cho thấy rằng vắc xin được phát triển cho SARS-CoV-2 sẽ là một loại vắc-xin duy nhất, chứ không phải là vắc xin cần đổi mới mỗi năm như vắc xin cúm.

Trong các điều kiện này, một loại vắc xin coronavirus tiềm năng sẽ được tiêm một lần, như chúng ta hiện đang điều trị bệnh sởi hoặc thủy đậu, mang lại khả năng miễn dịch trong một khoảng thời gian đáng kể – có lẽ là cả đời.

Tình hình thảm khốc ở Tây Ban Nha và Ý, nơi có tỷ lệ tử vong cao và vượt xa những gì được thấy ở Vũ Hán, đã khiến một số người suy đoán rằng những quần thể này đang đối phó với một chủng coronavirus đột biến mạnh hơn.

Tuy nhiên, nghiên cứu mới nhất cho thấy đây không phải là vấn đề lớn. Virus dường như giống nhau ở Hoa Kỳ, Trung Quốc và Ý. Tỷ lệ tử vong khác nhau rất có thể là do hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia. Chẳng hạn, Ý có tỷ lệ 1 trong 4 người trên 65 tuổi, nhóm tuổi dễ bị tổn thương nhất đối với COVID-19. Hệ thống chăm sóc sức khỏe của họ cũng đã bị ảnh hưởng nặng với một loạt các bệnh nhiễm trùng.

Khi virus lây nhiễm ngày càng nhiều người, mọi thứ có thể thay đổi. Mặc dù nó dường như có tỷ lệ đột biến nhỏ, coronavirus có thể bù cho khối lượng. Các nhà dịch tễ học cho biết, nếu virus này không được kiểm soát, có thể có từ 60% đến 80% dân số thế giới cuối cùng có thể bị nhiễm SARS-CoV-2. Với nhiều vật chủ mang vi rút này, coronavirus mới có thể sẽ biến đổi khác đi sau một năm nữa.

Các nhà khoa học hiện đang nghiên cứu 30-42 ứng cử viên vắc xin cho SARS-CoV-2. Bất chấp những nỗ lực tốt nhất của họ, cần ít nhất 12-18 tháng nữa mới có thể có vắc xin đầu tiên. Cho đến khi một loại vắc xin đã sẵn sàng để được triển khai, cách tốt nhất để ngăn ngừa bệnh với COVID-19 là thực hành vệ sinh tốt và cách ly xã hội.

Viet’s Post (Theo ZME Science)

5 ứng cử viên hàng đầu cho vắc xin COVID-19 trên toàn thế giới

Người ta rất dễ phàn nàn về vai trò của các hãng dược phẩm lớn trong việc sản xuất thuốc để chống lại các bệnh khác nhau và những rắc rối khi phải đối phó với việc bảo vệ các bằng sáng chế liên quan. Nhưng có một điều dễ bị bỏ qua là hiện vẫn có nhiều phòng thí nghiệm hơn bao giờ hết trên toàn thế giới đang tìm cách phát triển vắc xin mới chống lại COVID19, đa số được tài trợ từ các chính phủ.

Hiện tại, có ít nhất 42 ứng cử viên vắc xin trên toàn thế giới đang được phát triển. Dưới đây là năm ứng cử viên hàng đầu trên khắp thế giới (xếp theo thứ tự ngẫu nhiên).

mRNA-1273 (Mỹ)

Đầu tiên là mRNA-1273, được phát triển bởi Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) và Moderna, một công ty công nghệ sinh học có trụ sở tại Massachusetts. Nó được tạo ra từ các phân tử RNA tổng hợp có thể mô phỏng coronavirus mới. Các nhà nghiên cứu vắc xin đang bỏ qua các thử nghiệm trên động vật và đang tiến hành thử nghiệm trên người ở Mỹ, với mục đích tuyển dụng 45 người khỏe mạnh trong 6 tuần tới.

Ad5-nCoV (Trung Quốc)

Trong khi đó, các nhà chức trách Trung Quốc đã chấp thuận cho thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1 của một loại vắc xin, được gọi là Ad5-nCoV, sử dụng một adenovirus khuyết cơ chế sao chép như một phương tiện để thể hiện protein S mã hóa vỏ vi rút được tìm thấy trong coronavirus mới. Được phát triển bởi các nhà nghiên cứu tại CanSino Biologics có trụ sở tại Thiên Tân và Viện Hàn lâm Khoa học Quân y, nó đã mang lại kết quả tích cực trong các thử nghiệm trên động vật. Giờ đây, đối với các thử nghiệm trên người sắp tới, các nhà nghiên cứu dự kiến ​​sẽ tuyển 108 người khỏe mạnh vào Bệnh viện Tong Tongji ở Vũ Hán.

BNT162 (Đức, Trung Quốc)

BioNTech, một công ty trị liệu miễn dịch từ Đức, gần đây đã ký một biên bản ghi nhớ với Pfizer để hợp tác phát triển và phân phối vắc xin dựa trên mRNA. Cụ thể, hợp tác này hy vọng sẽ đẩy nhanh một chương trình vắc xin COVID-19 gọi là BNT162. Vì vậy, người ta có thể bắt đầu thử nghiệm lâm sàng vào cuối tháng 4/2020. Tin tức này được đưa ra chỉ một ngày sau khi thông báo rằng công ty đã nhận được tới 135 triệu đô la từ Fosun Pharma có trụ sở tại Trung Quốc để thúc đẩy tiến trình phát triển vắc xin tại Trung Quốc.

Vắc xin tương tự IBV (Israel)

Viện nghiên cứu Galilee (MIGAL) ở Israel cũng có một ứng cử viên vắc xin. Ở đó, các nhà nghiên cứu đang nghiên cứu để điều chỉnh một loại vắc xin ban đầu được tạo ra để chống virus viêm phế quản truyền nhiễm (IBV) ở gia cầm để sử dụng ở những người mắc coronavirus mới do sự tương đồng giữa hai loại virus. Được tài trợ bởi chính phủ Israel, các nhà nghiên cứu đặt mục đích bắt đầu thử nghiệm vắc xin ở người trong vòng 8 đến 10 tuần tới.

INO-4800 (Mỹ)

Cuối cùng, INOVIO có trụ sở tại Pennsylvania cũng có một ứng cử viên vắc xin sáng giá. Vừa nhận được khoản tài trợ trị giá 5 triệu đô la từ Quỹ Bill & Melinda Gates, họ đặt mục tiêu đẩy nhanh việc thử nghiệm vắc xin dựa trên DNA mới, được gọi là INO-4800. Hiện đang được nghiên cứu tiền lâm sàng, công ty đặt mục tiêu mở rộng vào các thử nghiệm lâm sàng vào tháng tới với mục tiêu cuối cùng là cung cấp hơn một triệu liều thuốc cho bệnh nhân trước cuối năm 2020.

Viet’s Post (Theo Labroots, JPost, Science MagWHO)

SARS-CoV-2 gây ra COVID-19 có thể được tái tổ hợp từ 2 vi rút khác nhau

Trong khoảng vài tuần qua, các nhà khoa học và cộng đồng đã học được rất nhiều về COVID-19 và loại virus gây ra nó: SARS-CoV-2. Nhưng cũng đã có rất nhiều tin đồn. Và trong khi số lượng bài báo khoa học về virus này đang gia tăng, vẫn còn nhiều câu hỏi về nguồn gốc của nó. Một giả thuyết mới cho rằng SARS-CoV-2 gây ra COVID-19 có thể được tái tổ hợp từ 2 vi rút khác nhau.

Nó bắt nguồn từ loài động vật nào? Dơi, tê tê hay một loài hoang dã khác? Nó đến từ đâu? Từ một hang động hay một khu rừng ở tỉnh Hồ Bắc của Trung Quốc, hay ở nơi khác?

Vào tháng 12 năm 2019, 27 trong số 41 người đầu tiên nhập viện (66%) đã từng đến một khu chợ nằm ở trung tâm thành phố Vũ Hán thuộc tỉnh Hồ Bắc. Nhưng, theo một nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Vũ Hán, trường hợp bệnh nhân đầu tiên được xác định không thường xuyên đến chợ này. Thay vào đó, một ước tính dựa trên trình tự bộ gen SARS-CoV-2 về nguồn gốc vi rút đã được công bố vào tháng 11 năm ngoái đã đặt ra câu hỏi về mối liên hệ giữa dịch bệnh COVID-19 và các loài động vật hoang dã.

Dữ liệu hệ gen

Bộ gen SARS-CoV-2 nhanh chóng được các nhà nghiên cứu Trung Quốc giải trình tự. Nó là một phân tử RNA gồm khoảng 30.000 base chứa 15 gen, bao gồm gen S mã hóa cho một protein nằm trên bề mặt của vỏ virus. Để so sánh cho dễ hình dung, bộ gen của con người chúng ta ở dạng chuỗi xoắn kép DNA khoảng 3 tỷ base có kích thước và chứa khoảng 30.000 gen.

Các phân tích so sánh hệ gen đã chỉ ra rằng SARS-CoV-2 thuộc nhóm Betacoronaviruses và nó rất gần với SARS-CoV, chịu trách nhiệm về dịch bệnh viêm phổi cấp tính xuất hiện vào tháng 11/2002 tại tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc và sau đó lan sang 29 quốc gia trong năm 2003. Tổng cộng có 8.098 trường hợp được ghi nhận, trong đó có 774 trường hợp tử vong. Được biết, dơi thuộc chi Rhinolophus (gồm một số loài sống trong hang động) là ổ chứa vi rút này, và cầy hương (Paguma larvata), một loài thú ăn thịt nhỏ, có thể đã phục vụ như một vật chủ trung gian giữa dơi và các trường hợp đầu tiên ở người nhiễm SARS-CoV.

Kể từ đó, nhiều loại Betacoronavirus đã được phát hiện, chủ yếu ở dơi, nhưng cũng ở người. Ví dụ, RaTG13, được phân lập từ một con dơi thuộc loài Rhinolophus affinis thu thập được ở tỉnh Yun Yun, Trung Quốc, gần đây đã được mô tả là rất giống với SARS-CoV-2, với trình tự bộ gen giống hệt 96% [1]. Những kết quả này chỉ ra rằng dơi, và đặc biệt là các loài thuộc chi Rhinolophus, tạo thành “ổ chứa” vi rút SARS-CoV và SARS-CoV-2.

Nhưng làm thế nào để xác định chính xác một ổ chứa vi rút? Một ổ chứa là một hoặc một số loài động vật không hoặc ít nhạy cảm với virus, vì thế chúng sẽ là vật chủ tự nhiên mang một hoặc một số virus. Sự vắng mặt của các triệu chứng của bệnh trong trường hợp này được giải thích bởi hiệu quả của hệ thống miễn dịch của vật chủ, cho phép vật chủ chiến đấu chống lại quá nhiều sự tăng sinh của virus.

Cơ chế tái tổ hợp

Vào ngày 7 tháng 2 năm 2020, chúng ta đã biết rằng một loại virus thậm chí gần gũi hơn với SARS-CoV-2 đã được phát hiện ở tê tê. Với 99% sự phù hợp về bộ gen được báo cáo, điều này cho thấy đây là một ổ chứa với khả năng cao hơn dơi [2].

Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây (đang chờ phản biện) lại cho thấy bộ gen của coronavirus phân lập từ tê tê Malaysia (Manis javanica) ít giống với SARS-Cov-2, chỉ có 90% sự phù hợp về bộ gen [3]. Điều này sẽ chỉ ra rằng virus phân lập trong tê tê có thể không chịu trách nhiệm cho dịch COVID-19 hiện đang hoành hành.

Thế nhưng, coronavirus phân lập từ tê tê vẫn tương tự 99% ở một vùng cụ thể của protein S, tương ứng với 74 axit amin của vùng liên kết thụ thể ACE (Angiotensin Converting Enzyme 2), có chức năng cho phép virus xâm nhập tế bào người để lây nhiễm chúng. Ngược lại, virus RaTG13 phân lập từ dơi R. affinis lại rất khác biệt ở khu vực cụ thể này (chỉ có 77% tương tự). Điều này có nghĩa là virus coronavirus phân lập từ tê tê có khả năng xâm nhập vào tế bào người trong khi loại phân lập từ dơi R. affinis thì không.

Ngoài ra, những so sánh về bộ gen này cho thấy rằng vi rút SARS-CoV-2 là kết quả của sự tái tổ hợp giữa hai loại vi rút khác nhau, một loại gần với RaTG13 từ dơi và loại khác gần với vi rút từ tê tê. Nói cách khác, nó là một “con lai” được dung hợp giữa hai loại virus có sẵn. Những con tê tê bị nhiễm bệnh cho thấy các dấu hiệu lâm sàng và thay đổi mô bệnh học, và các kháng thể lưu hành đã phản ứng với protein S của SARS-CoV-2. Việc phân lập coronavirus có liên quan nhiều đến SARS-CoV-2 trong tê tê cho thấy những động vật này có khả năng đóng vai trò là vật chủ trung gian của SARS-CoV-2.

Cơ chế tái tổ hợp này đã từng được mô tả ở coronavirus [4], đặc biệt là để giải thích nguồn gốc của SARS-CoV. Điều quan trọng cần biết là sự tái tổ hợp dẫn đến một loại virus mới có khả năng lây nhiễm một loài vật chủ mới. Để tái tổ hợp xảy ra, hai loại virus khác biệt này phải đồng thời lây nhiễm vào cùng một sinh vật.

Vì vậy, hai câu hỏi vẫn chưa được trả lời: (1) Ở sinh vật nào đã diễn ra quá trình tái tổ hợp này? (dơi, tê tê hay một loài khác?). (2) Và trên hết, trong những điều kiện nào sự tái hợp này đã diễn ra?

Các coronavirus mới được xác định ở động vật có vú bị buôn bán nhiều nhất có thể là mối đe dọa liên tục đối với sức khỏe cộng đồng nếu việc buôn bán động vật hoang dã không được kiểm soát một cách hiệu quả.

Viet’s Post (Theo The Conservation Biorxiv)

Tài liệu tham khảo:

[1] Zhou, P., Yang, X., Wang, X. et al. A pneumonia outbreak associated with a new coronavirus of probable bat origin. Nature 579, 270–273 (2020). https://doi.org/10.1038/s41586-020-2012-7

[2] Did pangolins spread the China coronavirus to people? https://www.nature.com/articles/d41586-020-00364-2

[3] Kangpeng Xiao, Junqiong Zhai, Yaoyu Feng, Niu Zhou, Xu Zhang, Jie-Jian Zou, Na Li, Yaqiong Guo, Xiaobing Li, Xuejuan Shen, Zhipeng Zhang, Fanfan Shu, Wanyi Huang, Yu Li, Ziding Zhang, Rui-Ai Chen, Ya-Jiang Wu, Shi-Ming Peng, Mian Huang, Wei-Jun Xie, Qin-Hui Cai, Fang-Hui Hou, Yahong Liu, Wu Chen, Lihua Xiao, Yongyi Shen. Isolation and Characterization of 2019-nCoV-like Coronavirus from Malayan Pangolins. BioRxiv 2020.02.17.951335; doi: https://doi.org/10.1101/2020.02.17.951335. https://www.biorxiv.org/content/10.1101/2020.02.17.951335v1

[4] Rachel L. Graham, Ralph S. Baric. Recombination, Reservoirs, and the Modular Spike: Mechanisms of Coronavirus Cross-Species Transmission. Journal of Virology Mar 2010, 84 (7) 3134-3146; DOI: 10.1128/JVI.01394-09. https://jvi.asm.org/content/84/7/3134

%d bloggers like this: