Tag Archive | dịch bệnh

3 biến thể và các tuyến lây nhiễm được xác định thông qua phân tích 160 bộ gen SARS-CoV-2 gây ra COVID-19 trên khắp toàn cầu

Trong một công bố mới nhất trên Tạp chí danh tiếng PNAS khi phân tích 160 bộ gen của virus SARS-CoV-2 ở các bệnh nhân COVID-19 từ khắp nơi trên thế giới, các nhà khoa học đã phát hiện ba biến thể khác nhau của virus (loại A, B và C) và các tuyến lây nhiễm của các biến thể này. Các loại A và C được tìm thấy có tỷ lệ cao tương ứng ở Mỹ và Châu Âu. Ngược lại, loại B xuất hiện phổ biến nhất ở Đông Á và bộ gen tổ tiên của nó dường như không lan ra ngoài Đông Á nếu không bị đột biến thành các nhóm khác có nguồn gốc từ loại B. Điều này thể hiện hiệu ứng kẻ sáng lập hoặc hiện tượng kháng miễn dịch hay kháng môi trường nhằm chống lại loại này ở bên ngoài châu Á.

Tiến sĩ Forster, một nhà di truyền học tại Đại học Cambridge, và các đồng nghiệp đã sử dụng dữ liệu từ bộ gen virus SARS-CoV-2 được lấy mẫu từ khắp nơi trên thế giới trong khoảng thời gian từ ngày 24 tháng 12 năm 2019 đến ngày 4 tháng 3 năm 2020. Các tác giả của nghiên cứu này cho biết có rất nhiều đột biến xảy ra nhanh chóng, gọn gàng trong cây phát sinh chủng loại của các hệ gen SARS-CoV-2. Nhóm tác giả đã sử dụng thuật toán mạng di truyền để xây dựng cây phát sinh chủng loại. Các kỹ thuật này hầu hết được biết đến để lập bản đồ các biến đổi di truyền của quần thể người tiền sử thông qua trình tự DNA. Đây là lần đầu tiên chúng được sử dụng để theo dõi các con đường lây nhiễm của một loại vi rút corona như SARS-CoV-2.

Kết quả nghiên cứu đã phát hiện có ba biến thể khác nhau của virus, mỗi loại bao gồm các nhóm chủng có liên quan chặt chẽ với nhau. Biến thể loại A có quan hệ gần nhất với chủng vi rút được phát hiện ở loài dơi, là nhóm chủng có mặt ở Vũ Hán từ ban đầu, nhưng đáng ngạc nhiên là loại A không phải là loại virus chiếm ưu thế của thành phố này.

Mạng lưới phát sinh chủng loại của 160 bộ gen SARS-CoV-2. A là nhóm virus gốc BatCoVRaTG13 từ loài dơi ( Rhinolophus affinis) ở tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Diện tích vòng tròn tỷ lệ thuận với số lượng loài và mỗi nốt trên các liên kết đại diện cho một vị trí nucleotide đột biến. Ảnh: Forster et al, doi: 10.1073 / pnas.2004999117.

Các phiên bản đột biến của loại A đã được tìm thấy ở những người Mỹ từng sống ở Vũ Hán và một tỷ lệ lớn virus loại A được tìm thấy ở các bệnh nhân đến từ Mỹ và Úc.

Loại B là nhóm virus chính của Vũ Hán, có mặt phổ biến ở những bệnh nhân từ khắp các nước Đông Á. Tuy nhiên, biến thể loại này đã không đi xa hơn bên ngoài khu vực nếu không bị đột biến thành loại khác. Điều này ngụ ý nguồn phát sinh virus là từ Vũ Hán hoặc có sự đề kháng bởi hệ miễn dịch hoặc môi trường chống lại loại này ở bên ngoài Đông Á.

Biến thể loại C là loại chính của châu Âu, được tìm thấy ở những bệnh nhân sớm từ Pháp, Ý, Thụy Điển và Anh. Nó không có trong mẫu nghiên cứu ở Trung Quốc đại lục, nhưng được thấy ở Singapore, Hồng Kông và Hàn Quốc.

Phân tích mới cũng cho thấy rằng một trong những lần lây nhiễm virus sớm nhất vào Ý là thông qua ca nhiễm đầu tiên được ghi nhận ở Đức vào ngày 27 tháng 1, và một con đường lây nhiễm sớm khác của Ý có liên quan đến các chủng virus từ Singapore.

Điều quan trọng là các kỹ thuật phân tích mạng di truyền của nhóm tác giả đã vạch ra chính xác các tuyến lây nhiễm được thiết lập trước đây. Thực tế là các đột biến và dòng virus đã kết nối thành công các dấu chấm của các trường hợp đã biết.

Do đó, các nhà khoa học cho rằng các phương pháp phân tích phát sinh chủng loại này có thể được áp dụng cho phân tích trình tự bộ gen của các virus corona mới nhất để giúp dự đoán các điểm nóng trong tương lai về con đường truyền bệnh và phát sinh đột biến.

Phân tích mạng di truyền có khả năng giúp xác định các nguồn lây nhiễm COVID-19 chưa được chứng thực, sau đó có thể được kiểm dịch để ngăn chặn sự lây lan của căn bệnh này trên toàn thế giới.

Các biến thể A, liên quan chặt chẽ nhất với virus được tìm thấy ở cả dơi và tê tê, hiện vẫn đang được các nhà khoa học mô tả là gốc rễ của sự bùng phát đại dịch.

Loại B có nguồn gốc từ A, cách nhau bởi hai đột biến, sau đó đến lượt loại C được phát sinh từ loại B.

Các tuyến lây nhiễm của 3 biến chủng A, B và C trên khắp thế giới. Video+Ảnh: dailymail.co.uk.

Các tác giả cho biết, sở dĩ biến thể B chỉ có mặt ở Đông Á có thể là kết quả của hiệu ứng kẻ sáng lập: hiện tượng “thắt cổ chai” di truyền đã xảy ra khi trong trường hợp các chủng virus này mới được tạo thành từ một nhóm nhỏ nhưng bị cách ly trong thành phố.

Tiến sĩ Forster còn cho biết có thể có một lời giải thích khác đáng để xem xét, đó là virus loại B Vũ Hán có thể thích nghi về mặt miễn dịch hoặc môi trường với một bộ phận lớn dân số Đông Á. Có thể chúng cần phải đột biến để vượt qua sự kháng cự bên ngoài Đông Á. Chúng ta dường như thấy tốc độ đột biến ở Đông Á chậm hơn các nơi khác, trong giai đoạn ban đầu này.

Viet’s Post

Tài liệu gốc: Peter Forster et al. Phylogenetic network analysis of SARS-CoV-2 genomes. PNAS, published online April 8, 2020; doi: 10.1073/pnas.2004999117

Các nghệ sĩ Việt tham gia cuộc chiến chống Covid-19 qua các bức họa đầy tính cách mạng

Tờ báo The Guardian của Anh vừa ca ngợi rằng mặc dù có biên giới chung với Trung Quốc, Việt Nam vẫn giữ số ca nhiễm ở mức thấp thông qua các biện pháp kiểm dịch, truy tìm dấu vết, xét nghiệm và tuyên truyền. Các nghệ sĩ Việt cũng đang tham gia cuộc chiến chống Covid-19 qua các bức họa đầy tính cách mạng hào hùng.

Tờ báo The Guardian miêu tả trong các bức tranh được vẽ, mỗi nhân viên y tế Việt Nam đeo mặt nạ dũng cảm như một người lính, bên cạnh một khẩu hiệu táo bạo tuyên bố rằng ở nhà là yêu nước. Bên dưới bức tranh là các khuyến cáo người dân chủ động thông báo cho chính quyền các triệu chứng bệnh hoặc khai báo y tế tự nguyện.

Tấm áp phích của họa sĩ Lê Đức Hiệp, chỉ là một trong vô số loại hình nghệ thuật xuất hiện từ Việt Nam – từ những bài hát rửa tay loại virus đến tem do Nhà nước in – phản ánh tinh thần thời chiến tranh mà nhiều người trong nước đang cố gắng ngăn chặn virus.

Bức tranh của Lưu Đức Hiệp

Với tính thẩm mỹ tuyên truyền nguyên mẫu, giọng điệu dân tộc hào hùng và các nhân vật anh hùng, người ta có thể cho rằng áp phích của họa sĩ Hiệp mang tính tuyên truyền cách mạng. Trong thực tế, anh ấy đã chọn một thiết kế có thể cộng hưởng với mọi người để tăng thêm tính giáo dục cho xã hội.

Phạm Trung Hà, một họa sĩ nổi tiếng đến từ Việt Nam trước đây, đã cộng tác với Bộ Y tế và Công ty tem Việt Nam để thực hiện hai thiết kế, mỗi thiết kế với mục đích là gửi thông điệp đoàn kết rõ ràng trong cuộc chiến chống lại Covid-19. Một bức tranh cho thấy các nhân viên y tế bận kiểm tra coronavirus. Đằng sau họ có một nắm tay giơ lên tượng trưng cho sự kháng cự và thách thức.

Chính quyền cũng đã kêu gọi các họa sĩ trên toàn quốc gửi các thiết kế áp phích. Mặc dù đang điều trị ung thư, nghệ sĩ Lưu Yên Thế 73 tuổi đã nộp hai bản thiết kế cho Bộ Văn hóa Việt Nam, cả hai đều được chấp nhận và hiện đang treo trên đường phố. Ông cho biết mặc dù hiện tại đang có sức khỏe kém và thời hạn rất ngắn, nhưng vẫn quyết định tham gia dự án này để giúp đỡ mọi người trong cuộc chiến này. “Nếu chúng tôi không thể ở tiền tuyến, tất cả các nghệ sĩ có thể hỗ trợ theo cách riêng của chúng tôi bằng cách cung cấp thông tin thông qua các bức tranh tuyên truyền”, ông nói thêm.

Bức tranh của Lưu Yên Thế

Huỳnh Kim Liên và Nguyễn Quang Phụng, người sáng lập KAA Illustrated, cũng đã giới thiệu các bác sĩ, y tá và sĩ quan quân đội trong một bức tranh màu nước để gửi lời cảm ơn đến tiền tuyến. Tại thời điểm này, họ nói, nghệ thuật là cách duy nhất để chúng ta kết nối với người khác.

Các nghệ sĩ ở Việt Nam, như Kim Liên, cho rằng tại Việt Nam chúng tôi đang trong cuộc chiến với virus, vì vậy, là nghệ sĩ, chúng tôi thực hiện công việc của mình trong một cuộc chiến, đó là chúng tôi vẽ.

Viet’s Post (Theo The Guardian)

Tác hại tiềm tàng của chloroquine, hydroxychloroquine và azithromycin trong điều trị COVID-19

Chloroquine, hydroxychloroquine và azithromycin đang được sử dụng để điều trị và phòng ngừa COVID-19 mặc dù bằng chứng về tính hiệu quả của chúng còn thấp. Vì vậy, một báo cáo tổng quan mới nhất được công bố trên Tạp chí Hiệp hội Y khoa Canada (Canadian Medical Association Journal) cho rằng các bác sĩ và bệnh nhân nên biết về các tác dụng phụ nghiêm trọng tiềm tàng của các thuốc này.

Báo cáo tổng quan cho thấy các bác sĩ và bệnh nhân nên biết về một số tác dụng phụ hiếm gặp nhưng có khả năng đe dọa đến tính mạng của chloroquine và hydroxychloroquine, đồng thời có thể áp dụng để quản lý sử dụng thuốc dựa trên các bằng chứng tốt nhất hiện có.

Các tác dụng phụ tiềm ẩn được chỉ ra bao gồm:

  • Rối loạn nhịp tim
  • Hạ đường huyết
  • Tác dụng thần kinh, như kích động, nhầm lẫn, ảo giác và hoang tưởng
  • Tương tác với các thuốc khác
  • Khác biệt về trao đổi chất (một số người chuyển hóa chloroquine và hydroxychloroquine kém và một tỷ lệ nhỏ chuyển hóa chúng nhanh chóng, vì thế ảnh hưởng đến đáp ứng điều trị)
  • Sử dụng quá liều (chloroquine và hydroxychloroquine rất độc khi dùng quá liều và có thể gây co giật, hôn mê và ngừng tim)
  • Thiếu thuốc (bệnh nhân bị rối loạn tự miễn dịch như viêm khớp dạng thấp, ban đỏ lupus và các bệnh mãn tính khác, những người dùng hydroxychloroquine để điều trị các tình trạng này có thể gặp vấn đề khi tiếp cận thuốc này)

Báo cáo tổng quan cũng cho thấy các bằng chứng hiện nay là chưa đủ mạnh về lợi ích điều trị của các thuốc này ở những bệnh nhân mắc COVID-19 và cảnh báo rằng có thể các phương pháp điều trị thậm chí có thể làm bệnh nặng hơn.

Mặc dù có người đang lạc quan về tiềm năng của chloroquine hoặc hydroxychloroquine trong điều trị COVID-19, nhưng cần thận trọng hơn về khả năng thuốc có thể ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển bệnh. Vì vậy, các nhà khoa học cho rằng cần có các bằng chứng tốt hơn trước khi thường xuyên sử dụng các loại thuốc này để điều trị cho bệnh nhân mắc COVID-19.

Viet’s Post

Tài liệu gốc: David N. Juurlink. Safety considerations with chloroquine, hydroxychloroquine and azithromycin in the management of SARS-CoV-2 infection. CMAJ, 2020; DOI: 10.1503/cmaj.200528

Bài học về giãn cách xã hội trong thế giới tự nhiên của các loài động vật

Việt Nam đang thực thi giãn cách xã hội (social distancing) trong 2 tuần. Nhiều nước trên thế giới cũng đã và đang thực hiện. Giãn cách xã hội để chống lại COVID-19 đang tác động sâu sắc đến xã hội, khiến nhiều người tự hỏi liệu nó có thực sự hoạt động hiệu quả hay không. Theo các nhà sinh thái học về bệnh, ngay trong thế giới tự nhiên đã có câu trả lời. Nhiều loài động vật như khỉ, tôm hùm, côn trùng và chim có thể phát hiện và tránh các thành viên bị bệnh trong loài của chúng. Tại sao có nhiều loại động vật phát triển các hành vi tinh tế như vậy để đáp ứng với bệnh tật? Bởi vì giãn cách xã hội giúp chúng sống sót.

Về mặt tiến hóa, động vật đã thực hiện giãn cách xã hội hiệu quả trong thời kỳ dịch bệnh nhằm cải thiện cơ hội sống khỏe mạnh và tiếp tục sinh ra nhiều con cái, điều này cũng sẽ tạo giãn cách xã hội khi đối mặt với bệnh tật.

Các nhà khoa học đã nghiên cứu các cách thức đa dạng trong đó động vật sử dụng các hành vi để tránh nhiễm bệnh và tại sao các hành vi này đóng vai trò quan trọng đối với việc lây bệnh. Trong khi động vật đã phát triển một loạt các hành vi hạn chế nhiễm bệnh, thì sự phổ biến của giãn cách xã hội ở động vật sống theo bầy đàn cho chúng ta biết rằng chiến lược này là phổ biến ở những động vật phải đối mặt với nguy cơ cao mắc bệnh truyền nhiễm.

Chúng ta có thể học được gì về sự giãn cách xã hội từ các loài động vật khác, hành động của chúng diễn ra như thế nào, và những gì không giống như cái con người đang làm bây giờ?

Nuôi dưỡng con bị bệnh, và bảo vệ con chúa

Những loài côn trùng có đời sống xã hội là một trong những kẻ thực hành thành thạo nhất về giãn cách xã hội trong tự nhiên. Nhiều loại kiến sống trong các tổ chật hẹp với hàng trăm hoặc thậm chí hàng ngàn con. Giống như các trung tâm chăm sóc y tế, ký túc xá đại học và viện dưỡng lão, những nơi sống này có thể tạo điều kiện tối ưu để truyền bệnh truyền nhiễm.

Để đối phó với nguy cơ này, kiến đã phát triển khả năng giãn cách xã hội. Khi một căn bệnh truyền nhiễm quét qua xã hội của chúng, cả những con kiến ốm yếu và khỏe mạnh sẽ nhanh chóng thay đổi hành vi của chúng theo những cách làm chậm quá trình truyền bệnh. Các con kiến ốm tự cách ly và các con kiến khỏe mạnh giảm tương tác với các con kiến khác khi có dịch bệnh ở trong tổ của chúng.

Những con kiến khỏe mạnh thậm chí còn được “xếp gần” với các thành viên dễ bị tổn thương nhất trong tổ là kiến chúa và “kiến y tá” bằng cách giữ chúng cách ly với những con kiến thợ có khả năng lây bệnh từ bên ngoài. Nhìn chung, các biện pháp này có hiệu quả cao trong việc hạn chế lây lan bệnh và giữ cho các thành viên trong tổ sống sót.

Nhiều loài động vật khác cũng biết chọn chính xác những cá thể nào cần giữ giãn cách xã hội, và ngược lại, khi nào tự đặt mình vào rủi ro mắc bệnh. Ví dụ, loài khỉ mặt chó (mandrill) tiếp tục chăm sóc cho các thành viên gia đình bị bệnh ngay cả khi chúng chủ động tránh các thành viên ngoài gia đình bị bệnh. Theo quan điểm tiến hóa, việc chăm sóc một thành viên trong gia đình bị bệnh có thể cho phép một con vật di truyền gen cho con đẻ trong gia đình.

Hơn nữa, một số động vật duy trì các tương tác xã hội thiết yếu khi đối mặt với bệnh tật trong khi đưa ra những điều ít quan trọng hơn. Ví dụ, dơi ma cà rồng tiếp tục cung cấp thức ăn cho các con cùng đàn bị bệnh, nhưng tránh chải chuốt chúng. Điều này giảm thiểu rủi ro truyền nhiễm trong khi vẫn duy trì các hình thức hỗ trợ xã hội là điều cần thiết nhất để giữ cho các thành viên gia đình bị bệnh còn sống, chẳng hạn như chia sẻ thức ăn.

Những hình thức sắc thái giãn cách xã hội này giảm thiểu tác động của bệnh tật trong khi vẫn duy trì những lợi ích của đời sống xã hội. Không có gì ngạc nhiên khi quá trình tiến hóa đã chọn lọc hình thức này ở nhiều loài động vật.

Lòng vị tha làm chúng ta là con người

Hành vi của con người trong thời kỳ dịch bệnh cũng mang dấu hiệu của sự tiến hóa. Điều này chỉ ra rằng tổ tiên vượn người của chúng ta phải đối mặt với nhiều áp lực tương tự từ các bệnh truyền nhiễm mà chúng ta đang phải đối mặt ngày nay.

Giống như kiến có đời sống xã hội, chúng ta đang bảo vệ những thành viên dễ bị tổn thương nhất trong xã hội khỏi bị nhiễm COVID-19 bằng cách đảm bảo rằng những người già và những người mắc bệnh trước đó tránh xa những người có khả năng truyền nhiễm. Giống như khỉ và dơi, chúng ta cũng thực hành giãn cách xã hội, giảm bớt các liên hệ xã hội không thiết yếu trong khi vẫn cung cấp chăm sóc thiết yếu cho các thành viên gia đình bị bệnh.

Tuy nhiên, cũng có những khác biệt quan trọng. Ví dụ, ngoài việc chăm sóc các thành viên gia đình bị bệnh, con người đôi khi còn làm tăng rủi ro của chính họ bằng cách chăm sóc những người ngoài gia đình, chẳng hạn như bạn bè và hàng xóm. Xa hơn nữa, các nhân viên y tế còn tích cực tìm kiếm và giúp đỡ chính những người mà đúng ra theo quy luật trong tự nhiên họ cần phải tránh.

Lòng vị tha là hành vi duy nhất phân biệt phản ứng với dịch bệnh giữa con người và các động vật khác. Các động vật khác phải dựa vào tín hiệu tinh tế để phát hiện bệnh giữa các thành viên trong đàn, nhưng chúng ta có các công nghệ tiên tiến giúp phát hiện mầm bệnh nhanh chóng và sau đó cách ly và điều trị cho những người bị bệnh. Và con người có thể truyền đạt các mối đe dọa sức khỏe trên toàn cầu ngay lập tức, điều này cho phép chúng ta chủ động tạo ra các hành động làm giảm nhẹ bệnh tật. Đó là một lợi thế tiến hóa rất lớn.

Cuối cùng, nhờ các nền tảng số, con người có thể duy trì các kết nối xã hội mà không cần tiếp xúc trực tiếp. Điều này có nghĩa là không giống như các động vật khác, chúng ta có thể luyện tập thể chất thay vì giãn cách xã hội, điều này cho phép chúng ta duy trì một số lợi ích quan trọng của việc sống theo nhóm trong khi giảm thiểu rủi ro bệnh tật.

Đáng để thực hiện giãn cách xã hội

Bằng chứng từ thiên nhiên rất rõ ràng: Giãn cách xã hội là một công cụ hiệu quả để giảm lây lan bệnh. Nó cũng là một công cụ có thể được thực hiện nhanh chóng và phổ biến hơn hầu hết các công cụ khác. Không giống như tiêm chủng và dùng thuốc, thay đổi hành vi không yêu cầu phải phát triển thêm hoặc thử nghiệm.

Tuy nhiên, giãn cách xã hội cũng có thể phải chịu tổn thất lớn và đôi khi không bền vững. Một số động vật có tính xã hội cao, như cầy mangut vằn, không cách ly các thành viên trong đàn ngay cả khi chúng bị bệnh rõ ràng. Trong trường hợp này có thể đơn giản hiểu rằng những thiệt hại do giãn cách xã hội tạo ra với các thành viên trong gia đình và bầy đàn là quá lớn với chúng. Như chúng ta hiện đang trải qua, giãn cách xã hội cũng gây ra nhiều tổn thất nghiêm trọng trong xã hội loài người, và những thiệt hại này thường do những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội phải gánh chịu.

Mặc dù giãn cách xã hội có thể gây ra thiệt hại, tại sao nhiều động vật vẫn làm điều đó? Đó là vì những hành động bảo vệ chúng khỏi bệnh tật cuối cùng cho phép chúng tận hưởng cuộc sống xã hội – một lối sống mang lại vô số lợi ích, nhưng cũng mang đến một vài rủi ro. Bằng cách thực hiện giãn cách xã hội khi cần thiết, con người và các động vật khác có thể tiếp tục gặt hái những lợi ích đa dạng của đời sống xã hội trong thời gian dài, đồng thời giảm thiểu thiệt hại do các bệnh có thể gây tử vong khi chúng phát sinh.

Giãn cách xã hội có thể làm ảnh hưởng sâu sắc cho xã hội của chúng ta, nhưng nó cũng có thể ngăn chặn sự bùng phát dịch bệnh. Chỉ cần hỏi đàn kiến thì sẽ biết thôi.

Viet’s Post (Theo The Conservation)

Danh sách các quốc gia mắc COVID-19: Cập nhật đến 31/3/2020

Tính đến 31/3/2020
– Toàn cầu: 785K ca nhiễm tại 211 quốc gia và vùng lãnh thổ, 38K tử vong (4,8%), 165K hồi phục (21%)
– Top 3 ca nhiễm: Mỹ (160K), Ý (100K), Tây Ban Nha (88K) (đều vượt trên Trung Quốc)
– Top 3 tỷ lệ tử vong: Ý (11%), Tây Ban Nha (8,8%) và Indonesia (8,6%)
– Top 3 tỷ lệ hồi phục: Trung Quốc (93%), Hàn Quốc (55%) và Iran (33%)

1. Danh sách các quốc gia mắc COVID-19 xếp theo số ca nhiễm: Cập nhật đến 31/3/2020

Địa điểm[a] Xác nhận Tử vong Tỷ lệ tử vong (%) Hồi phục Tỷ lệ hồi phục (%)
Tổng quốc gia và vùng lãnh thổ (211)[1] 784,716 37,639 4.80 165,370 21.07
Hoa Kỳ[b]
163,479 3,146 1.92 5,604 3.43
Ý
101,739 11,591 11.39 14,620 14.37
Tây Ban Nha
87,956 7,716 8.77 16,780 19.08
Trung Quốc đại lục[2][c]
81,470 3,304 4.06 75,770 93.00
Đức
66,885 645 0.96 6,522 9.75
Iran
41,495 2,757 6.64 13,911 33.52
Pháp
40,174 2,606 6.49 7,202 17.93
Vương quốc Anh
22,141 1,408 6.36 135 0.61
Thụy Sĩ[3]
15,923 354 2.22 2,105 13.22
Bỉ[4]
11,899 513 4.31 1,527 12.83
Hà Lan
11,750 864 7.35 0 0.00
Thổ Nhĩ Kỳ
10,827 168 1.55 162 1.50
Hàn Quốc
9,786 162 1.66 5,408 55.26
Áo
9,618 108 1.12 636 6.61
Canada
7,435 89 1.20 1,065 14.32
Bồ Đào Nha
6,408 140 2.18 43 0.67
Israel
4,695 16 0.34 161 3.43
Úc[5]
4,460 19 0.43 226 5.07
Na Uy
4,445 32 0.72 0 0.00
Brasil
4,330 140 3.23 120 2.77
Thụy Điển[6]
4,106 161 3.92 18 0.44
Cộng hòa Séc[7]
2,976 23 0.77 25 0.84
Đan Mạch[8]
2,755 77 2.79 0 0.00
Malaysia
2,626 37 1.41 479 18.24
Ireland
2,615 46 1.76 5 0.19
Chile[d]
2,139 7 0.33 75 3.51
România
2,109 65 3.08 209 9.91
Ba Lan
2,055 31 1.51 35 1.70
Luxembourg
1,988 22 1.11 40 2.01
Ecuador
1,890 57 3.02 3 0.16
Nhật Bản
1,866 54 2.89 404 21.65
Nga[e]
1,836 9 0.49 66 3.59
Pakistan
1,717 20 1.16 57 3.32
Philippines
1,546 78 5.05 42 2.72
Thái Lan[9]
1,524 9 0.59 127 8.33
Ả Rập Xê Út
1,453 8 0.55 115 7.91
Indonesia
1,414 122 8.63 75 5.30
Nam Phi
1,326 3 0.23 31 2.34
Phần Lan
1,308 13 0.99 10 0.76
Ấn Độ[10]
1,251 32 2.56 102 8.15
Hy Lạp[11]
1,212 43 3.55 52 4.29
Panama
1,075 24 2.23 4 0.37
Iceland
1,020 2 0.20 135 13.24
México
993 20 2.01 3 0.30
Peru
950 24 2.53 322 33.89
Singapore[12]
879 3 0.34 228 25.94
Cộng hòa Dominica
859 39 4.54 3 0.35
Argentina
820 20 2.44 51 6.22
Croatia
790 6 0.76 64 8.10
Serbia
785 16 2.04 42 5.35
Slovenia
756 11 1.46 10 1.32
Estonia
715 3 0.42 20 2.80
Colombia
702 10 1.42 10 1.42
Qatar
693 1 0.14 51 7.36
Hồng Kông
682 4 0.59 124 18.18
Diamond Princess
672 10 1.49 603 89.73
Ai Cập[13][f]
656 41 6.25 152 23.17
Iraq
630 46 7.30 152 24.13
UAE
611 5 0.82 61 9.98
New Zealand
600 1 0.17 74 12.33
Algérie[14]
584 35 5.99 31 5.31
Maroc
556 33 5.94 15 2.70
Ukraina
548 13 2.37 8 1.46
Bahrain
515 4 0.78 279 54.17
Litva
484 7 1.45 1 0.21
Armenia
482 3 0.62 30 6.22
Hungary
447 15 3.36 34 7.61
Liban
446 11 2.47 35 7.85
Latvia
376 0 0.00 1 0.27
Tunisia
362 10 2.76 2 0.55
Bulgaria
359 8 2.23 15 4.18
Bosna và Hercegovina
358 9 2.51 17 4.75
Slovakia
336 0 0.00 7 2.08
Andorra
334 6 1.80 6 1.80
Costa Rica
330 2 0.61 4 1.21
Uruguay
309 1 0.32 0 0.00
Đài Loan
306 5 1.63 39 12.75
Kazakhstan
302 1 0.33 21 6.95
Bắc Macedonia
285 7 2.46 12 4.21
Azerbaijan
273 4 1.47 26 9.52
Jordan
268 5 1.87 26 9.70
Kuwait
266 0 0.00 72 27.07
Burkina Faso
246 12 4.88 31 12.60
Moldova
245 2 0.82 13 5.31
San Marino
230 25 10.87 13 5.65
Síp
225 6 2.67 18 8.00
Réunion
224 0 0.00 0 0.00
Albania
223 12 5.38 44 19.73
Việt Nam[15]
204 0 0.00 55 26.96
Oman
179 0 0.00 26 14.53
Puerto Rico
174 6 3.45 0 0.00
Cuba[g]
170 4 2.35 4 2.35
Quần đảo Faroe
168 0 0.00 70 41.67
Bờ Biển Ngà
168 1 0.60 6 3.57
Sénégal
162 0 0.00 28 17.28
Malta
156 0 0.00 2 1.28
Belarus[16]
152 0 0.00 47 30.92
Ghana
152 5 3.29 2 1.32
Uzbekistan
149 2 1.34 7 4.70
Cameroon
139 6 4.32 5 3.60
Honduras
139 3 2.16 0 0.00
Nigeria
131 2 1.53 8 6.11
Venezuela
129 3 2.33 39 30.23
Mauritius
128 3 2.34 0 0.00
Brunei
127 1 0.79 38 29.92
Sri Lanka
122 2 1.64 14 11.48
Afghanistan
120 4 3.33 2 1.67
Palestine
115 1 0.87 18 15.65
Campuchia
107 0 0.00 23 21.50
Guadeloupe
106 4 3.77 0 0.00
Kosovo
106 1 0.94 1 0.94
Gruzia
103 0 0.00 20 19.42
Bolivia
97 4 4.12 0 0.00
Kyrgyzstan
94 0 0.00 3 3.19
Martinique
93 1 1.08 0 0.00
Montenegro
91 1 1.10 0 0.00
Mayotte
82 0 0.00 0 0.00
Trinidad và Tobago
82 3 3.66 1 1.22
CHDC Congo
81 8 9.88 2 2.47
Jersey
81 2 2.47 0 0.00
Rwanda
70 0 0.00 0 0.00
Gibraltar
65 0 0.00 14 21.54
Liechtenstein
64 0 0.00 0 0.00
Paraguay
64 3 4.69 1 1.56
Bắc Síp
61 1 1.64 29 47.54
Guernsey
60 0 0.00 0 0.00
Guam
58 1 1.72 0 0.00
Aruba
50 0 0.00 0 0.00
Kenya
50 1 2.00 1 2.00
Bangladesh
49 5 10.20 19 38.78
Đảo Man
49 0 0.00 0 0.00
Monaco
46 0 0.00 1 2.17
Guyane thuộc Pháp
43 0 0.00 0 0.00
Madagascar
43 0 0.00 0 0.00
Ma Cao
38 0 0.00 10 26.32
Guatemala
36 1 2.78 10 27.78
Jamaica
36 1 2.78 2 5.56
Polynésie thuộc Pháp
35 0 0.00 0 0.00
Zambia
35 0 0.00 0 0.00
Togo
34 1 2.94 10 29.41
Barbados
33 0 0.00 0 0.00
Uganda
33 0 0.00 0 0.00
El Salvador
30 0 0.00 0 0.00
Quần đảo Virgin thuộc Mỹ
30 0 0.00 0 0.00
Niger
27 3 11.11 0 0.00
Mali
25 2 8.00 0 0.00
Ethiopia
23 0 0.00 1 4.35
Bermuda
22 0 0.00 10 45.45
Guinée
22 0 0.00 0 0.00
Cộng hòa Congo
19 0 0.00 0 0.00
Tanzania
19 0 0.00 1 5.26
Djibouti
18 0 0.00 0 0.00
Saint Martin
18 1 5.56 2 11.11
Transnistria
18 0 0.00 0 0.00
Maldives
17 0 0.00 11 64.71
Nouvelle-Calédonie
15 0 0.00 0 0.00
Eritrea
15 0 0.00 0 0.00
Bahamas
14 0 0.00 0 0.00
Myanmar
14 0 0.00 0 0.00
Quần đảo Cayman
12 1 8.33 0 0.00
Guinea Xích Đạo
12 0 0.00 0 0.00
Mông Cổ
12 0 0.00 0 0.00
Curaçao
11 1 9.09 0 0.00
Dominica
11 0 0.00 0 0.00
Namibia
11 0 0.00 0 0.00
Greenland
10 0 0.00 2 20.00
Eswatini
9 0 0.00 0 0.00
Grenada
9 0 0.00 0 0.00
Saint Lucia
9 0 0.00 1 11.11
Syria
9 0 0.00 0 0.00
Guiné-Bissau
8 0 0.00 0 0.00
Guyana
8 1 12.50 0 0.00
Haiti
8 0 0.00 0 0.00
Lào
8 0 0.00 0 0.00
Libya
8 0 0.00 0 0.00
Mozambique
8 0 0.00 0 0.00
Seychelles
8 0 0.00 0 0.00
Suriname
8 0 0.00 0 0.00
Angola
7 0 0.00 0 0.00
Antigua và Barbuda
7 0 0.00 0 0.00
Gabon
7 1 14.29 0 0.00
Saint Kitts và Nevis
7 0 0.00 0 0.00
Zimbabwe
7 1 14.29 0 0.00
Bénin
6 0 0.00 0 0.00
Cabo Verde
6 1 16.67 0 0.00
Mauritanie
6 0 0.00 0 0.00
Saint Barthélemy
6 0 0.00 1 16.67
Sint Maarten
6 0 0.00 0 0.00
Sudan
6 1 16.67 0 0.00
Thành Vatican
6 0 0.00 0 0.00
Akrotiri và Dhekelia
5 0 0.00 0 0.00
Quần đảo Åland
5 0 0.00 0 0.00
Tchad
5 0 0.00 0 0.00
Fiji
5 0 0.00 0 0.00
Montserrat
5 0 0.00 0 0.00
Nepal
5 0 0.00 1 20.00
Quần đảo Turks và Caicos
5 0 0.00 0 0.00
Bhutan
4 0 0.00 0 0.00
Gambia
4 1 25.00 0 0.00
Nicaragua
4 1 25.00 0 0.00
Belize
3 0 0.00 0 0.00
Botswana
3 0 0.00 0 0.00
Cộng hòa Trung Phi
3 0 0.00 0 0.00
Liberia
3 0 0.00 0 0.00
Somalia
3 0 0.00 0 0.00
Anguilla
2 0 0.00 0 0.00
Quần đảo Virgin thuộc Anh
2 0 0.00 0 0.00
MS Zaandam
2 0 0.00 0 0.00
Quần đảo Bắc Mariana
2 0 0.00 0 0.00
Đông Timor
1 0 0.00 0 0.00
Papua New Guinea
1 0 0.00 0 0.00
St. Vincent và Grenadines
1 0 0.00 1 100.00

2. Danh sách các quốc gia mắc COVID-19 trên 1000 ca xếp theo tỷ lệ tử vong: Cập nhật đến 31/3/2020

Địa điểm[a] Xác nhận Tử vong Tỷ lệ tử vong (%) Hồi phục Tỷ lệ hồi phục (%)
Ý
101,739 11,591 11.39 14,620 14.37
Tây Ban Nha
87,956 7,716 8.77 16,780 19.08
Indonesia
1,414 122 8.63 75 5.30
Hà Lan
11,750 864 7.35 0 0.00
Iran
41,495 2,757 6.64 13,911 33.52
Pháp
40,174 2,606 6.49 7,202 17.93
Vương quốc Anh
22,141 1,408 6.36 135 0.61
Philippines
1,546 78 5.05 42 2.72
Tổng quốc gia và vùng lãnh thổ (211)[1] 784,716 37,639 4.80 165,370 21.07
Bỉ[4]
11,899 513 4.31 1,527 12.83
Trung Quốc đại lục[2][c]
81,470 3,304 4.06 75,770 93.00
Thụy Điển[6]
4,106 161 3.92 18 0.44
Hy Lạp[11]
1,212 43 3.55 52 4.29
Brasil
4,330 140 3.23 120 2.77
România
2,109 65 3.08 209 9.91
Ecuador
1,890 57 3.02 3 0.16
Nhật Bản
1,866 54 2.89 404 21.65
Đan Mạch[8]
2,755 77 2.79 0 0.00
Ấn Độ[10]
1,251 32 2.56 102 8.15
Panama
1,075 24 2.23 4 0.37
Thụy Sĩ[3]
15,923 354 2.22 2,105 13.22
Bồ Đào Nha
6,408 140 2.18 43 0.67
Hoa Kỳ[b]
163,479 3,146 1.92 5,604 3.43
Ireland
2,615 46 1.76 5 0.19
Hàn Quốc
9,786 162 1.66 5,408 55.26
Thổ Nhĩ Kỳ
10,827 168 1.55 162 1.50
Ba Lan
2,055 31 1.51 35 1.70
Malaysia
2,626 37 1.41 479 18.24
Canada
7,435 89 1.20 1,065 14.32
Pakistan
1,717 20 1.16 57 3.32
Áo
9,618 108 1.12 636 6.61
Luxembourg
1,988 22 1.11 40 2.01
Phần Lan
1,308 13 0.99 10 0.76
Đức
66,885 645 0.96 6,522 9.75
Cộng hòa Séc[7]
2,976 23 0.77 25 0.84
Na Uy
4,445 32 0.72 0 0.00
Thái Lan[9]
1,524 9 0.59 127 8.33
Ả Rập Xê Út
1,453 8 0.55 115 7.91
Nga[e]
1,836 9 0.49 66 3.59
Úc[5]
4,460 19 0.43 226 5.07
Israel
4,695 16 0.34 161 3.43
Chile[d]
2,139 7 0.33 75 3.51
Nam Phi
1,326 3 0.23 31 2.34
Iceland
1,020 2 0.20 135

3. Danh sách các quốc gia mắc COVID-19 trên 1000 ca xếp theo tỷ lệ hồi phục: Cập nhật đến 31/3/2020

Địa điểm[a] Xác nhận Tử vong Tỷ lệ tử vong (%) Hồi phục Tỷ lệ hồi phục (%)
Trung Quốc đại lục[2][c]
81,470 3,304 4.06 75,770 93.00
Hàn Quốc
9,786 162 1.66 5,408 55.26
Iran
41,495 2,757 6.64 13,911 33.52
Nhật Bản
1,866 54 2.89 404 21.65
Tổng quốc gia và vùng lãnh thổ (211)[1] 784,716 37,639 4.80 165,370 21.07
Tây Ban Nha
87,956 7,716 8.77 16,780 19.08
Malaysia
2,626 37 1.41 479 18.24
Pháp
40,174 2,606 6.49 7,202 17.93
Ý
101,739 11,591 11.39 14,620 14.37
Canada
7,435 89 1.20 1,065 14.32
Iceland
1,020 2 0.20 135 13.24
Thụy Sĩ[3]
15,923 354 2.22 2,105 13.22
Bỉ[4]
11,899 513 4.31 1,527 12.83
România
2,109 65 3.08 209 9.91
Đức
66,885 645 0.96 6,522 9.75
Thái Lan[9]
1,524 9 0.59 127 8.33
Ấn Độ[10]
1,251 32 2.56 102 8.15
Ả Rập Xê Út
1,453 8 0.55 115 7.91
Áo
9,618 108 1.12 636 6.61
Indonesia
1,414 122 8.63 75 5.30
Úc[5]
4,460 19 0.43 226 5.07
Hy Lạp[11]
1,212 43 3.55 52 4.29
Nga[e]
1,836 9 0.49 66 3.59
Chile[d]
2,139 7 0.33 75 3.51
Israel
4,695 16 0.34 161 3.43
Hoa Kỳ[b]
163,479 3,146 1.92 5,604 3.43
Pakistan
1,717 20 1.16 57 3.32
Brasil
4,330 140 3.23 120 2.77
Philippines
1,546 78 5.05 42 2.72
Nam Phi
1,326 3 0.23 31 2.34
Luxembourg
1,988 22 1.11 40 2.01
Ba Lan
2,055 31 1.51 35 1.70
Thổ Nhĩ Kỳ
10,827 168 1.55 162 1.50
Cộng hòa Séc[7]
2,976 23 0.77 25 0.84
Phần Lan
1,308 13 0.99 10 0.76
Bồ Đào Nha
6,408 140 2.18 43 0.67
Vương quốc Anh
22,141 1,408 6.36 135 0.61
Thụy Điển[6]
4,106 161 3.92 18 0.44
Panama
1,075 24 2.23 4 0.37
Ireland
2,615 46 1.76 5 0.19
Ecuador
1,890 57 3.02 3 0.16
Hà Lan
11,750 864 7.35 0 0.00
Đan Mạch[8]
2,755 77 2.79 0 0.00
Na Uy
4,445 32 0.72 0 0.00

Viet’s Post

Tham khảo:

  1. ^ [Số ca nhiễm virus corona COVID-19 trên toàn cầu trên trang web chính thức của Tổ chức Y tế Thế giới] |dịch tựa đề= cần |tựa đề= (trợ giúp). https://www.who.int/. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2020.
  2. ^ “截至3月7日24时新型冠状病毒肺炎疫情最新情况” [Cập nhật về đợt bùng phát virus corona vào lúc 24:00 ngày 7 tháng 3]. 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  3. ^ “Swiss death toll from new coronavirus rises to two” [Số ca tử vong do virus corona tại Thụy Sĩ tăng lên hai]. 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  4. ^ “31 nieuwe besmettingen met het coronavirus covid-19” [31 ca nhiễm COVID-19 mới] (bằng tiếng Hà Lan). 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  5. ^ “Coronavirus: Infected WA woman attended Beethoven performance” [Virus corona: Người phụ nữ WA bị nhiễm dự buổi biểu điễn Beethoven]. The Australian. 8 tháng 3 năm 2020.
  6. ^ “Senaste nytt om coronaviruset” [Tin tức mới nhất về virus corona]. SVT Nyheter (bằng tiếng Thụy Điển). 24 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  7. ^ “Počet nakažených koronavirem stoupl na 31. Babiš oznámil další tři případy” [Số ca nhiễm virus corona tăng lên 31. Babiš xác nhận thêm ba ca]. iDNES.cz (bằng tiếng Séc). 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  8. ^ “Seneste tal på COVID-19 i Danmark” [Số liệu mới nhất cho COVID-19 tại Đan Mạch]. Styrelsen for Patientsikkerhed (Bộ Y tế) (bằng tiếng Đan Mạch). 7 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2020.
  9. ^ “โรคติดเชื้อไวรัสโคโรนาสายพันธุ์ใหม่ 2019”. Home | กรมควบคุมโรค (bằng tiếng Thái). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  10. ^ “Tamil Nadu reports second case of coronavirus, total 40 infected in India” [Tamil Nadu xác nhận ca nhiễm COVID-19 thứ hai, tổng cộng 40 ca tại Ấn Độ]. Hindustan Times. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  11. ^ “Greece Announces New Emergency Measures, as Coronavirus Cases Rise to 73” [Hy Lạp đưa ra biện pháp khẩn cấp mới với số ca nhiễm COVID-19 tăng lên 73]. GreekReporter.com. 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  12. ^ “Updates on COVID-19 (Coronavirus Disease 2019) Local Situation” [Cập nhân COVID-19 Tình hình địa phương]. 7 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  13. ^ Michael, Maggie; Magdy, Samy (7 tháng 3 năm 2020). “Egypt says cruise ship quarantined over new virus cluster” [Ai Cập cách ly du thuyền vì lo ngại cụm virus mới]. Associated Press. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  14. ^ “Coronavirus : un nouveau cas confirmé en Algérie” [Virus corona: một ca nhiễm mới được xác nhận tại Algeria]. TSA (bằng tiếng Pháp). 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  15. ^ “TRANG TIN VỀ DỊCH BỆNH VIÊM ĐƯỜNG HÔ HẤP CẤP COVID-19 CỦA BỘ Y TẾ VIỆT NAM”. Bộ Y Tế VN. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2020.

FBI: Mỹ từng phát hiện nhà khoa học Trung Quốc nghi mang lọ chứa virus MERS, SARS

Hải quan Mỹ vào năm 2018 từng phát hiện trong hành lý của một nhà sinh vật học Trung Quốc có ba lọ nghi chứa virus gây bệnh MERS và SARS mà FBI xem là nguy cơ an ninh sinh học đối với nước Mỹ.

Đây là nội dung từ bản báo cáo tình báo chiến thuật của Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI) mà trang tin Yahoo News cho biết đã tiếp cận được và công bố mới đây. Hiện Trung Quốc vẫn chưa có phản ứng gì về cáo buộc trên của FBI.

Theo đó, vào cuối tháng 11-2018, tức trước một năm kể từ khi thế giới phát hiện trường hợp nhiễm virus corona chủng mới đầu tiên tại Vũ Hán (Trung Quốc), Hải quan Mỹ đã phát hiện điều bất thường trong hành lý của một người Trung Quốc.

Cụ thể nhân viên Cục Hải quan và biên phòng Mỹ tại sân bay Detroit Metro đã chặn một nhà sinh vật học Trung Quốc và phát hiện ba lọ ghi chữ “Kháng thể” trong hành lý của người này.

Nhà sinh vật học trên nói với các nhân viên rằng một đồng nghiệp ở Trung Quốc đã yêu cầu ông ta giao các lọ trên tới một nhà nghiên cứu ở một viện nghiên cứu ở Mỹ.

Sau khi kiểm tra các lọ này, nhân viên hải quan đi tới một kết luận “đáng báo động”, theo Yahoo News.

“Việc kiểm tra chữ ghi trên lọ và danh tính người nhận dẫn tới việc nhân viên thanh tra tin rằng thành phần chứa trong các lọ này có khả năng là thành phần của virus gây Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS) và Hội chứng Hô hấp cấp tính nặng (SARS)”, báo cáo của FBI viết.

Một đoạn trong bản báo cáo FBI do Yahoo News tiếp cận được – Ảnh: Yahoo News

Theo Yahoo News, bản báo cáo này do Đơn vị tình báo hóa sinh, thuộc Hội đồng về Vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMDD) của FBI viết. Báo cáo không cho biết tên nhà khoa học Trung Quốc mang theo mẩu thử nghi là virus gây bệnh MERS và SARS nêu trên, cũng không cung cấp danh tính của người nhận tại Mỹ.

Tuy nhiên FBI kết luận rằng vụ việc này cùng với hai trường hợp khác trong báo cáo là một phần của một tình trạng đáng báo động.

“WMDD đánh giá rằng các nhà nghiên cứu khoa học nước ngoài vận chuyển vật liệu sinh học không khai báo vào Mỹ chứa trong hành lý cá nhân và/hoặc hành lý kiểm tra gần như chắc chắn mang tới một nguy cơ an ninh sinh học cho Mỹ. WMDD viết bản đánh giá này với độ xác tín cao dựa trên báo cáo liên lạc với sự tiếp cận trực tiếp”, báo cáo viết.

Bản báo cáo này được công bố hơn hai tháng trước khi Tổ chức Y tế thế giới (WHO) biết về một cụm các trường hợp viêm phổi tại Vũ Hán, mà sau đó được xác định là bệnh do virus corona chủng mới gây ra (COVID-19).
Nội dung báo cáo này có vẻ là một phần trong số mối lo ngại lớn mà Mỹ hướng về các trường hợp liên quan giữa Trung Quốc với các nghiên cứu ở Mỹ. Trong khi bản báo cáo nhắc tới “các nhà nghiên cứu nước ngoài”, thì cả ba trường hợp xuất hiện trong báo cáo này đều có người Trung Quốc.

Trong vụ phát hiện vật liệu lọ nghi chứa virus gây bệnh SARS và MERS nêu trên, bản báo cáo trích dẫn một tài liệu phân loại khác được đánh dấu FISA (Foreign Intelligence Surveillance Act), tức bao gồm thông tin thu thập được dưới Đạo luật Giám sát tình báo nước ngoài.

FBI không nói rõ “nguy cơ an ninh sinh học” ở đây là gì. Nhưng theo giáo sư an ninh sinh học toàn cầu Raina MacIntyre tại Đại New South Wales (Úc), FBI có vẻ đang quan tâm tới nghiên cứu “công dụng kép”, tức một trong hai mục đích nghiên cứu có khả năng là “khủng bố sinh học”.
Thông tin về đánh giá của FBI đối với trường hợp nhà sinh vật học trên có thể thu hút sự chú ý của dư luận, trong bối cảnh đã xuất hiện thông tin chưa kiểm chứng về nguồn gốc virus gây COVID-19 hiện nay.

Một trong các thuyết âm mưu nổi bật nhất là nghi án nói virus corona chủng mới gây COVID-19 xuất phát từ một phòng thí nghiệm tại Trung Quốc. Vừa qua, quan hệ Mỹ – Trung trong vấn đề COVID-19 cũng đặc biệt căng thẳng khi một nhà ngoại giao Trung Quốc đặt ra khả năng quân đội Mỹ… đem virus tới Vũ Hán.

Viet’s Post (Theo Tuoitre)

Con mèo đầu tiên bị nhiễm COVID-19 do lây từ chủ ở Bỉ

Theo một báo cáo ngày 27/3 của Cơ quan sức khỏe cộng đồng, An toàn chuỗi Thực phẩm và Môi trường của Chính phủ Bỉ, một con mèo nhà ở Bỉ đã bị nhiễm COVID-19, căn bệnh gây ra bởi coronavirus mới đang lan rộng trên toàn cầu. Đây là trường hợp đầu tiên lây truyền từ người sang mèo của loại vi rút này.

Khoảng một tuần sau khi chủ của con mèo bị bệnh COVID-19, sau khi trở về từ chuyến đi đến miền Bắc nước Ý, con mèo đã phát triển các triệu chứng: tiêu chảy, nôn mửa và các vấn đề về hô hấp.

Người chủ nuôi đã gửi các mẫu chất nôn và phân đến phòng thí nghiệm của Tiến sĩ Daniel Desmecht tại Khoa Thú y của Liège. Các xét nghiệm di truyền cho thấy mức độ nhiễm SARS-CoV-2 cao trong các mẫu đó. Tuy nhiên, con mèo đã hồi phục sau 9 ngày.

Mèo và người dường như có một “tay nắm cửa” tương tự trên bề mặt của các tế bào hô hấp cho phép virus SARS-CoV-2 xâm nhập vào bên trong. Ở người, các nhà khoa học đã tìm ra rằng vi rút SARS-CoV-2 gắn vào một protein thụ thể gọi là ACE2 ở bên ngoài tế bào hô hấp. Một khi vào bên trong các tế bào này, virus chiếm quyền điều khiển để nó có thể sao chép.

Các nhà khoa học cho biết protein ACE2 của mèo tương đồng với ACE2 của con người, rất có thể là thụ thể tế bào đang được SARS-CoV-2 sử dụng để xâm nhập tế bào.

Đáng chú ý, trong đợt dịch SARS năm 2003, mèo cũng từng bị nhiễm coronavirus.

Những vật nuôi duy nhất khác được cho là đã “bắt” được coronavirus mới từ chủ sở hữu là hai con chó ở Hồng Kông. Con chó đầu tiên, một con chó Pomeranian 17 tuổi, đã thử nghiệm dương tính yếu với virus vào cuối tháng 2. Con chó đã chết vào giữa tháng 3, mặc dù nguyên nhân chính xác của cái chết vẫn chưa được biết, vì chủ nhân không cho phép khám nghiệm tử thi.

Một con chó thứ hai, được nuôi bởi một người chăn cừu Đức, đã thử nghiệm dương tính nhưng cho thấy không có triệu chứng của bệnh.

Trong đợt bùng phát hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS) do một loại coronavirus khác gây ra, chó và mèo cũng đã được báo cáo có nhiễm virus ở mức độ thấp.

Chưa có báo cáo nào về việc thú cưng truyền vi rút cho chủ nhân của chúng và cũng cần nhấn mạnh rằng ngay cả việc lây truyền từ người sang thú cưng cũng không phải là con đường lây lan virus đáng kể.

Để chứng minh dứt khoát rằng con mèo đã bị nhiễm SARS-CoV-2, các nhà khoa học sẽ cần xét nghiệm máu để tìm kháng thể đặc hiệu với loại virus này. Những xét nghiệm đó sẽ xảy ra khi mèo không còn được kiểm dịch.

FDA vừa chấp thuận xét nghiệm COVID-19 trong 5 phút

Trong những tuần gần đây, Mỹ đã phải vật lộn để cung cấp đủ các xét nghiệm để phát hiện coronavirus. Tuy nhiên, bây giờ, điều này có thể thay đổi nhờ sự chấp thuận của FDA về một thiết bị thử nghiệm nhanh của Phòng thí nghiệm Abbott có khả năng cho biết nếu ai đó bị nhiễm vi rút chỉ trong năm phút.

John Frels, phó chủ tịch nghiên cứu và phát triển tại Abbott Diagnostics, cho biết điều này thực sự sẽ mang đến một cơ hội to lớn cho những người chăm sóc tuyến đầu, những người phải chẩn đoán nhiều bệnh nhiễm trùng, để thu hẹp khoảng cách với thử nghiệm của chúng tôi … Một phòng khám sẽ có thể nhanh chóng đưa ra kết quả đó, trong khi bệnh nhân đang chờ đợi.

Để làm xét nghiệm, các bác sĩ phải lấy một miếng gạc từ mũi bệnh nhân hoặc sau cổ họng của họ. Sau đó trộn tăm bông vào dung dịch hóa học để phá virus và giải phóng RNA của nó để định danh, sau đó nó được đưa vào hệ thống ID Now, một hộp có trọng lượng dưới 7 pound. Hộp này sau đó xác định và đọc các chuỗi chọn lọc có liên quan đến bộ gen coronavirus. Chỉ mất năm phút để cung cấp kết quả tích cực khi bệnh nhân có tải lượng virus cao, một phân tích kỹ lưỡng hơn để loại trừ virus hoàn toàn mất đến 13 phút.

Abbott Diagnostics đã nói rằng họ sẽ có thể thực hiện 50.000 xét nghiệm này mỗi ngày kể từ ngày 1 tháng 4 và chúng có thể được sử dụng trong thực tế ở bất kỳ cơ sở chăm sóc sức khỏe nào. Do đó, chính phủ Hoa Kỳ ban đầu có kế hoạch đưa họ đến nơi cần thiết nhất – đặc biệt là trong các phòng cấp cứu bệnh viện, phòng khám chăm sóc khẩn cấp và văn phòng bác sĩ.

Tin tức này được đưa ra sau khi FDA đã phê duyệt hệ thống m2000 RealTime của Abbott, một kỹ thuật chẩn đoán khác, mặc dù mất nhiều thời gian hơn để tạo ra kết quả, có thể có tốc độ xét nghiệm nhanh hơn nhiều: lên tới 1 triệu xét nghiệm mỗi tuần. Hai hệ thống được thực hiện cùng nhau có nghĩa là Abbott sẽ sớm có thể tạo ra ít nhất 5 triệu xét nghiệm mỗi tháng.

Trong khi đó, các công ty khác cũng đang nỗ lực để cung cấp các công cụ chẩn đoán cho coronavirus. Henry Schein Inc, chẳng hạn, đã công bố về sự sẵn có của xét nghiệm kháng thể ngay tại điểm chăm sóc. Tìm kiếm bằng chứng cho thấy hệ thống miễn dịch của một người đã chống lại virus, xét nghiệm máu cho kết quả trong vòng 15 phút, mặc dù nó có thể được sử dụng để phát hiện các bệnh nhiễm trùng hiện tại.

Viet’s Post (Theo Labroots, Bloomberg, Chicago BusinessCNN)

Danh sách các quốc gia mắc COVID-19: Cập nhật đến 27/3/2020

1. Danh sách các quốc gia xếp theo số ca mắc bệnh (Tính đến ngày 27 tháng 3 năm 2020)

Quốc giaXác nhậnTử vongTỷ lệ tử vong (%)Hồi phụcTỷ lệ hồi phục (%)
Toàn cầu (208)[1]549,47424,8834.53128,70123.42
Hoa Kỳ[b][1]86,0431,3041.527530.88
Trung Quốc đại lục[1][2][c]81,3403,2924.0574,58891.70
Ý[1]80,5898,21510.1910,36112.86
Tây Ban Nha[1]64,0594,8587.589,35714.61
Đức[1]45,1892760.615,67812.57
Iran[1]32,3322,3787.3511,13334.43
Pháp[d][1]29,1551,6965.823,28111.25
Thụy Sĩ[1][3]11,9511971.658977.51
Vương quốc Anh[1][e]11,6605784.961401.20
Hàn Quốc[1]9,3321391.494,52848.52
Hà Lan[f][1]7,4594355.8300.00
Áo[1]7,317580.791121.53
Bỉ[4]7,2842893.9785811.78
Canada[1]4,043390.962285.64
Thổ Nhĩ Kỳ[1]3,629752.07260.72
Bồ Đào Nha[1]3,544601.69431.21
Na Uy[1]3,423150.4400.00
Úc[5]3,180130.411183.71
Israel[1]3,035100.33792.60
Brasil[1]2,985772.5860.20
Thụy Điển[6]2,858772.69160.56
Đan Mạch[7][g]2,163411.9000.00
Malaysia[1]2,161261.2025911.99
Cộng hòa Séc[8]2,06290.44100.48
Ireland[1]1,819191.0450.27
Luxembourg[1]1,45390.6260.41
Ecuador[1]1,403342.4230.21
Nhật Bản[1]1,387463.3235925.88
Chile[1]1,30640.31221.68
România[1]1,292241.861158.90
Pakistan[1]1,25290.72231.84
Ba Lan[1]1,244161.2960.48
Thái Lan[1][9]1,13650.44978.54
Indonesia[1]1,046878.32464.40
Nga[1][h]1,03630.29454.34
Ả Rập Xê Út[1]1,01230.30333.26
Phần Lan[i][1]95850.52101.04
Nam Phi[1]92700.00121.29
Hy Lạp[10]892262.91364.04
Philippines[1]803546.72313.86
Iceland[1]80220.258210.22
Ấn Độ[1][11]743182.42476.33
Diamond Princess[1]712111.5460184.41
Singapore[1][12]68320.2917225.18
Panama[1]67491.3420.30
Argentina[1]589122.04518.66
México[1]58581.3740.68
Peru[1]58091.5540.69
Estonia[1]57510.17111.91
Slovenia[1]56261.07101.78
Croatia[1]55130.54376.72
Qatar[1]54900.00417.47
Hồng Kông[1]51840.7711121.43
Ai Cập[1][13][j]495244.8510220.61
Colombia[1]49161.2281.63
Cộng hòa Dominica[1]488102.0530.61
Bahrain[1]46640.8622748.71
Serbia[1]45771.53153.28
Liban[1]39161.53235.88
Iraq[1]382369.4210527.49
New Zealand[1]36800.003710.05
Algérie[1][14]367256.81246.54
Litva[1]34541.1610.29
UAE[1]33320.605215.62
Armenia[1]32910.30185.47
Hungary[1]300103.333411.33
Latvia[1]28000.0010.36
Bulgaria[1]27631.0982.90
Maroc[1]275103.6482.91
Đài Loan[1]26720.753011.24
Uruguay[1]23800.0000.00
Costa Rica[1]23120.8720.87
Tunisia[1]22762.6420.88
Bosna và Hercegovina[1]22631.3352.21
Slovakia[1]22600.0073.10
Kuwait[1]22500.005725.33
Andorra[1]22431.3431.34
Bắc Macedonia[1]21931.3731.37
San Marino[1]218219.6352.29
Ukraina[1]21852.2941.83
Jordan[1]21200.0020.94
Albania[1]18684.303116.67
Moldova[k][1]17710.5621.13
Việt Nam[1][15]16300.002012.27
Burkina Faso[1]15274.61106.58
Síp[1]14632.0532.05
Malta[1]13400.0021.49
Ghana[1]13243.0300.00
Oman[1]13100.002317.56
Kazakhstan[1]12510.8000.00
Azerbaijan[1]12232.461512.30
Sénégal[1]11900.00119.24
Brunei[1]11400.0054.39
Venezuela[1]10710.933128.97
Sri Lanka[1]10600.0065.66
Campuchia[1]9800.001111.22
Bờ Biển Ngà[1]9600.0011.04
Afghanistan[1]9444.2622.13
Belarus[1][16]9400.003234.04
Palestine[1]9111.101718.68
Uzbekistan[1]8300.0000.00
Gruzia[1]8100.001316.05
Cameroon[1]7511.3322.67
Kosovo[1]7111.4100.00
Montenegro[1]7011.4300.00
Honduras[1]6811.4700.00
Cuba[l][1]6711.4900.00
Nigeria[1]6511.5434.62
Trinidad và Tobago[1]6511.5400.00
Bolivia[1]6100.0000.00
Kyrgyzstan[1]5800.0000.00
Bắc Síp[1]5700.002950.88
Liechtenstein[1]5600.0000.00
Mauritius[1]5223.8500.00
Paraguay[1]5235.7700.00
CHDC Congo[1]5147.8423.92
Rwanda[1]5000.0000.00
Bangladesh[1]48510.421122.92
Ma Cao[1]3300.001030.30
Monaco[1]3300.0013.03
Kenya[1]3113.2313.23
Jamaica[1]2613.8527.69
Togo[1]2500.0014.00
Barbados[1]2400.0000.00
Guatemala[1]2414.17416.67
Madagascar[1]2400.0000.00
Uganda[1]1800.0000.00
Ethiopia[1]1600.0000.00
Zambia[1]1600.0000.00
El Salvador[1]1300.0000.00
Maldives[1]1300.00323.08
Tanzania[1]1300.0000.00
Guinea Xích Đạo[1]1200.0000.00
Djibouti[1]1100.0000.00
Dominica[1]1100.0000.00
Mông Cổ[1]1100.0000.00
Niger[1]10110.0000.00
Bahamas[1]900.0000.00
Guinée[1]800.00112.50
Haiti[1]800.0000.00
Namibia[1]800.0000.00
Suriname[1]800.0000.00
Bénin[1]700.0000.00
Gabon[1]7114.2900.00
Grenada[1]700.0000.00
Mozambique[1]700.0000.00
Seychelles[1]700.0000.00
Eritrea[1]600.0000.00
Eswatini[1]600.0000.00
Lào[1]600.0000.00
Fiji[1]500.0000.00
Guyana[1]5120.0000.00
Syria[1]500.0000.00
Zimbabwe[1]5120.0000.00
Angola[1]400.0000.00
Cabo Verde[1]4125.0000.00
Cộng hòa Congo[1]400.0000.00
Mali[1]400.0000.00
Thành Vatican[1]400.0000.00
Antigua và Barbuda[1]300.0000.00
Cộng hòa Trung Phi[1]300.0000.00
Tchad[1]300.0000.00
Gambia[1]3133.3300.00
Liberia[1]300.0000.00
Mauritanie[1]300.0000.00
Myanmar[1]300.0000.00
Nepal[1]300.00133.33
Saint Lucia[1]300.0000.00
Somalia[1]300.0000.00
Sudan[1]3133.3300.00
Belize[1]200.0000.00
Bhutan[1]200.0000.00
Guiné-Bissau[1]200.0000.00
Nicaragua[1]200.0000.00
Saint Kitts và Nevis[1]200.0000.00
Đông Timor[1]100.0000.00
Libya[1]100.0000.00
Papua New Guinea[1]100.0000.00
St Vincent và Grenadines[1]100.0000.00

2. Danh sách các quốc gia xếp theo tỷ lệ tử vong (Tính đến ngày 27 tháng 3 năm 2020)

Quốc giaXác nhậnTử vongTỷ lệ tử vong (%)Hồi phụcTỷ lệ hồi phục (%)
Toàn cầu (208)[1]549,47424,8834.53128,70123.42
Gambia[1]3133.3300.00
Sudan[1]3133.3300.00
Cabo Verde[1]4125.0000.00
Guyana[1]5120.0000.00
Zimbabwe[1]5120.0000.00
Gabon[1]7114.2900.00
Bangladesh[1]48510.421122.92
Ý[1]80,5898,21510.1910,36112.86
Niger[1]10110.0000.00
San Marino[1]218219.6352.29
Iraq[1]382369.4210527.49
Indonesia[1]1,046878.32464.40
CHDC Congo[1]5147.8423.92
Tây Ban Nha[1]64,0594,8587.589,35714.61
Iran[1]32,3322,3787.3511,13334.43
Algérie[1][14]367256.81246.54
Philippines[1]803546.72313.86
Hà Lan[f][1]7,4594355.8300.00
Pháp[d][1]29,1551,6965.823,28111.25
Paraguay[1]5235.7700.00
Vương quốc Anh[1][e]11,6605784.961401.20
Ai Cập[1][13][j]495244.8510220.61
Burkina Faso[1]15274.61106.58
Albania[1]18684.303116.67
Afghanistan[1]9444.2622.13
Guatemala[1]2414.17416.67
Trung Quốc đại lục[1][2][c]81,3403,2924.0574,58891.70
Bỉ[4]7,2842893.9785811.78
Mauritius[1]5223.8500.00
Jamaica[1]2613.8527.69
Maroc[1]275103.6482.91
Hungary[1]300103.333411.33
Nhật Bản[1]1,387463.3235925.88
Kenya[1]3113.2313.23
Ghana[1]13243.0300.00
Hy Lạp[10]892262.91364.04
Thụy Điển[6]2,858772.69160.56
Tunisia[1]22762.6420.88
Brasil[1]2,985772.5860.20
Azerbaijan[1]12232.461512.30
Ecuador[1]1,403342.4230.21
Ấn Độ[1][11]743182.42476.33
Ukraina[1]21852.2941.83
Thổ Nhĩ Kỳ[1]3,629752.07260.72
Síp[1]14632.0532.05
Cộng hòa Dominica[1]488102.0530.61
Argentina[1]589122.04518.66
Đan Mạch[7][g]2,163411.9000.00
România[1]1,292241.861158.90
Bồ Đào Nha[1]3,544601.69431.21
Thụy Sĩ[1][3]11,9511971.658977.51
Peru[1]58091.5540.69
Diamond Princess[1]712111.5460184.41
Nigeria[1]6511.5434.62
Trinidad và Tobago[1]6511.5400.00
Liban[1]39161.53235.88
Serbia[1]45771.53153.28
Hoa Kỳ[b][1]86,0431,3041.527530.88
Cuba[l][1]6711.4900.00
Hàn Quốc[1]9,3321391.494,52848.52
Honduras[1]6811.4700.00
Montenegro[1]7011.4300.00
Kosovo[1]7111.4100.00
Bắc Macedonia[1]21931.3731.37
México[1]58581.3740.68
Andorra[1]22431.3431.34
Panama[1]67491.3420.30
Cameroon[1]7511.3322.67
Bosna và Hercegovina[1]22631.3352.21
Ba Lan[1]1,244161.2960.48
Colombia[1]49161.2281.63
Malaysia[1]2,161261.2025911.99
Litva[1]34541.1610.29
Palestine[1]9111.101718.68
Bulgaria[1]27631.0982.90
Slovenia[1]56261.07101.78
Ireland[1]1,819191.0450.27
Canada[1]4,043390.962285.64
Venezuela[1]10710.933128.97
Costa Rica[1]23120.8720.87
Bahrain[1]46640.8622748.71
Kazakhstan[1]12510.8000.00
Áo[1]7,317580.791121.53
Hồng Kông[1]51840.7711121.43
Đài Loan[1]26720.753011.24
Pakistan[1]1,25290.72231.84
Luxembourg[1]1,45390.6260.41
Đức[1]45,1892760.615,67812.57
UAE[1]33320.605215.62
Moldova[k][1]17710.5621.13
Croatia[1]55130.54376.72
Phần Lan[i][1]95850.52101.04
Thái Lan[1][9]1,13650.44978.54
Na Uy[1]3,423150.4400.00
Cộng hòa Séc[8]2,06290.44100.48
Úc[5]3,180130.411183.71
Israel[1]3,035100.33792.60
Chile[1]1,30640.31221.68
Armenia[1]32910.30185.47
Ả Rập Xê Út[1]1,01230.30333.26
Singapore[1][12]68320.2917225.18
Nga[1][h]1,03630.29454.34
Iceland[1]80220.258210.22
Estonia[1]57510.17111.91
Nam Phi[1]92700.00121.29
Qatar[1]54900.00417.47
New Zealand[1]36800.003710.05
Latvia[1]28000.0010.36
Uruguay[1]23800.0000.00
Slovakia[1]22600.0073.10
Kuwait[1]22500.005725.33
Jordan[1]21200.0020.94
Việt Nam[1][15]16300.002012.27
Malta[1]13400.0021.49
Oman[1]13100.002317.56
Sénégal[1]11900.00119.24
Brunei[1]11400.0054.39
Sri Lanka[1]10600.0065.66
Campuchia[1]9800.001111.22
Bờ Biển Ngà[1]9600.0011.04
Belarus[1][16]9400.003234.04
Uzbekistan[1]8300.0000.00
Gruzia[1]8100.001316.05
Bolivia[1]6100.0000.00
Kyrgyzstan[1]5800.0000.00
Bắc Síp[1]5700.002950.88
Liechtenstein[1]5600.0000.00
Rwanda[1]5000.0000.00
Ma Cao[1]3300.001030.30
Monaco[1]3300.0013.03
Togo[1]2500.0014.00
Barbados[1]2400.0000.00
Madagascar[1]2400.0000.00
Uganda[1]1800.0000.00
Ethiopia[1]1600.0000.00
Zambia[1]1600.0000.00
El Salvador[1]1300.0000.00
Maldives[1]1300.00323.08
Tanzania[1]1300.0000.00
Guinea Xích Đạo[1]1200.0000.00
Djibouti[1]1100.0000.00
Dominica[1]1100.0000.00
Mông Cổ[1]1100.0000.00
Bahamas[1]900.0000.00
Guinée[1]800.00112.50
Haiti[1]800.0000.00
Namibia[1]800.0000.00
Suriname[1]800.0000.00
Bénin[1]700.0000.00
Grenada[1]700.0000.00
Mozambique[1]700.0000.00
Seychelles[1]700.0000.00
Eritrea[1]600.0000.00
Eswatini[1]600.0000.00
Lào[1]600.0000.00
Fiji[1]500.0000.00
Syria[1]500.0000.00
Angola[1]400.0000.00
Cộng hòa Congo[1]400.0000.00
Mali[1]400.0000.00
Thành Vatican[1]400.0000.00
Antigua và Barbuda[1]300.0000.00
Cộng hòa Trung Phi[1]300.0000.00
Tchad[1]300.0000.00
Liberia[1]300.0000.00
Mauritanie[1]300.0000.00
Myanmar[1]300.0000.00
Nepal[1]300.00133.33
Saint Lucia[1]300.0000.00
Somalia[1]300.0000.00
Belize[1]200.0000.00
Bhutan[1]200.0000.00
Guiné-Bissau[1]200.0000.00
Nicaragua[1]200.0000.00
Saint Kitts và Nevis[1]200.0000.00
Đông Timor[1]100.0000.00
Libya[1]100.0000.00
Papua New Guinea[1]100.0000.00
St Vincent và Grenadines[1]100.0000.00

3. Danh sách các quốc gia xếp theo tỷ lệ hồi phục (Tính đến ngày 27 tháng 3 năm 2020)

Quốc giaXác nhậnTử vongTỷ lệ tử vong (%)Hồi phụcTỷ lệ hồi phục (%)
Toàn cầu (208)[1]549,47424,8834.53128,70123.42
Trung Quốc đại lục[1][2][c]81,3403,2924.0574,58891.70
Diamond Princess[1]712111.5460184.41
Bắc Síp[1]5700.002950.88
Bahrain[1]46640.8622748.71
Hàn Quốc[1]9,3321391.494,52848.52
Iran[1]32,3322,3787.3511,13334.43
Belarus[1][16]9400.003234.04
Ma Cao,Nepal Nepal[1]300.00133.33
Ma Cao[1]3300.001030.30
Venezuela[1]10710.933128.97
Iraq[1]382369.4210527.49
Nhật Bản[1]1,387463.3235925.88
Kuwait[1]22500.005725.33
Singapore[1][12]68320.2917225.18
Maldives[1]1300.00323.08
Bangladesh[1]48510.421122.92
Hồng Kông[1]51840.7711121.43
Ai Cập[1][13][j]495244.8510220.61
Palestine[1]9111.101718.68
Oman[1]13100.002317.56
Albania[1]18684.303116.67
Guatemala[1]2414.17416.67
Gruzia[1]8100.001316.05
UAE[1]33320.605215.62
Tây Ban Nha[1]64,0594,8587.589,35714.61
Ý[1]80,5898,21510.1910,36112.86
Đức[1]45,1892760.615,67812.57
Guinée[1]800.00112.50
Azerbaijan[1]12232.461512.30
Việt Nam[1][15]16300.002012.27
Malaysia[1]2,161261.2025911.99
Bỉ[4]7,2842893.9785811.78
Hungary[1]300103.333411.33
Pháp[d][1]29,1551,6965.823,28111.25
Đài Loan[1]26720.753011.24
Campuchia[1]9800.001111.22
Iceland[1]80220.258210.22
New Zealand[1]36800.003710.05
Sénégal[1]11900.00119.24
România[1]1,292241.861158.90
Argentina[1]589122.04518.66
Thái Lan[1][9]1,13650.44978.54
Jamaica[1]2613.8527.69
Thụy Sĩ[1][3]11,9511971.658977.51
Qatar[1]54900.00417.47
Croatia[1]55130.54376.72
Burkina Faso[1]15274.61106.58
Algérie[1][14]367256.81246.54
Ấn Độ[1][11]743182.42476.33
Liban[1]39161.53235.88
Sri Lanka[1]10600.0065.66
Canada[1]4,043390.962285.64
Armenia[1]32910.30185.47
Nigeria[1]6511.5434.62
Indonesia[1]1,046878.32464.40
Brunei[1]11400.0054.39
Nga[1][h]1,03630.29454.34
Hy Lạp[10]892262.91364.04
Togo[1]2500.0014.00
CHDC Congo[1]5147.8423.92
Philippines[1]803546.72313.86
Úc[5]3,180130.411183.71
Serbia[1]45771.53153.28
Ả Rập Xê Út[1]1,01230.30333.26
Kenya[1]3113.2313.23
Slovakia[1]22600.0073.10
Monaco[1]3300.0013.03
Maroc[1]275103.6482.91
Bulgaria[1]27631.0982.90
Cameroon[1]7511.3322.67
Israel[1]3,035100.33792.60
San Marino[1]218219.6352.29
Bosna và Hercegovina[1]22631.3352.21
Afghanistan[1]9444.2622.13
Síp[1]14632.0532.05
Estonia[1]57510.17111.91
Pakistan[1]1,25290.72231.84
Ukraina[1]21852.2941.83
Slovenia[1]56261.07101.78
Chile[1]1,30640.31221.68
Colombia[1]49161.2281.63
Áo[1]7,317580.791121.53
Malta[1]13400.0021.49
Bắc Macedonia[1]21931.3731.37
Andorra[1]22431.3431.34
Nam Phi[1]92700.00121.29
Bồ Đào Nha[1]3,544601.69431.21
Vương quốc Anh[1][e]11,6605784.961401.20
Moldova[k][1]17710.5621.13
Phần Lan[i][1]95850.52101.04
Bờ Biển Ngà[1]9600.0011.04
Jordan[1]21200.0020.94
Tunisia[1]22762.6420.88
Hoa Kỳ[b][1]86,0431,3041.527530.88
Costa Rica[1]23120.8720.87
Thổ Nhĩ Kỳ[1]3,629752.07260.72
Peru[1]58091.5540.69
México[1]58581.3740.68
Cộng hòa Dominica[1]488102.0530.61
Thụy Điển[6]2,858772.69160.56
Cộng hòa Séc[8]2,06290.44100.48
Ba Lan[1]1,244161.2960.48
Luxembourg[1]1,45390.6260.41
Latvia[1]28000.0010.36
Panama[1]67491.3420.30
Litva[1]34541.1610.29
Ireland[1]1,819191.0450.27
Ecuador[1]1,403342.4230.21
Brasil[1]2,985772.5860.20
Gambia[1]3133.3300.00
Sudan[1]3133.3300.00
Cabo Verde[1]4125.0000.00
Guyana[1]5120.0000.00
Zimbabwe[1]5120.0000.00
Gabon[1]7114.2900.00
Niger[1]10110.0000.00
Hà Lan[f][1]7,4594355.8300.00
Paraguay[1]5235.7700.00
Mauritius[1]5223.8500.00
Ghana[1]13243.0300.00
Đan Mạch[7][g]2,163411.9000.00
Trinidad và Tobago[1]6511.5400.00
Cuba[l][1]6711.4900.00
Honduras[1]6811.4700.00
Montenegro[1]7011.4300.00
Kosovo[1]7111.4100.00
Kazakhstan[1]12510.8000.00
Na Uy[1]3,423150.4400.00
Uruguay[1]23800.0000.00
Uzbekistan[1]8300.0000.00
Bolivia[1]6100.0000.00
Kyrgyzstan[1]5800.0000.00
Liechtenstein[1]5600.0000.00
Rwanda[1]5000.0000.00
Barbados[1]2400.0000.00
Madagascar[1]2400.0000.00
Uganda[1]1800.0000.00
Ethiopia[1]1600.0000.00
Zambia[1]1600.0000.00
El Salvador[1]1300.0000.00
Tanzania[1]1300.0000.00
Guinea Xích Đạo[1]1200.0000.00
Djibouti[1]1100.0000.00
Dominica[1]1100.0000.00
Mông Cổ[1]1100.0000.00
Bahamas[1]900.0000.00
Haiti[1]800.0000.00
Namibia[1]800.0000.00
Suriname[1]800.0000.00
Bénin[1]700.0000.00
Grenada[1]700.0000.00
Mozambique[1]700.0000.00
Seychelles[1]700.0000.00
Eritrea[1]600.0000.00
Eswatini[1]600.0000.00
Lào[1]600.0000.00
Fiji[1]500.0000.00
Syria[1]500.0000.00
Angola[1]400.0000.00
Cộng hòa Congo[1]400.0000.00
Mali[1]400.0000.00
Thành Vatican[1]400.0000.00
Antigua và Barbuda[1]300.0000.00
Cộng hòa Trung Phi[1]300.0000.00
Tchad[1]300.0000.00
Liberia[1]300.0000.00
Mauritanie[1]300.0000.00
Myanmar[1]300.0000.00
Saint Lucia[1]300.0000.00
Somalia[1]300.0000.00
Belize[1]200.0000.00
Bhutan[1]200.0000.00
Guiné-Bissau[1]200.0000.00
Nicaragua[1]200.0000.00
Saint Kitts và Nevis[1]200.0000.00
Đông Timor[1]100.0000.00
Libya[1]100.0000.00
Papua New Guinea[1]100.0000.00
St Vincent và Grenadines[1]100.0000.00

Viet’s Post

Tài liệu tham khảo

  1. ^ “Coronavirus COVID-19 Global Cases by Johns Hopkins CSSE” [Số ca nhiễm virus corona COVID-19 trên toàn cầu bởi John Hopkins CSSE]. gisanddata.maps.arcgis.com. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2020.
  2. ^ “截至3月7日24时新型冠状病毒肺炎疫情最新情况” [Cập nhật về đợt bùng phát virus corona vào lúc 24:00 ngày 7 tháng 3]. 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  3. ^ “Swiss death toll from new coronavirus rises to two” [Số ca tử vong do virus corona tại Thụy Sĩ tăng lên hai]. 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  4. ^ “31 nieuwe besmettingen met het coronavirus covid-19” [31 ca nhiễm COVID-19 mới] (bằng tiếng Hà Lan). 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  5. ^ “Coronavirus: Infected WA woman attended Beethoven performance” [Virus corona: Người phụ nữ WA bị nhiễm dự buổi biểu điễn Beethoven]. The Australian. 8 tháng 3 năm 2020.
  6. ^ “Senaste nytt om coronaviruset” [Tin tức mới nhất về virus corona]. SVT Nyheter (bằng tiếng Thụy Điển). 24 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  7. ^ “Seneste tal på COVID-19 i Danmark” [Số liệu mới nhất cho COVID-19 tại Đan Mạch]. Styrelsen for Patientsikkerhed (Bộ Y tế) (bằng tiếng Đan Mạch). 7 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2020.
  8. ^ “Počet nakažených koronavirem stoupl na 31. Babiš oznámil další tři případy” [Số ca nhiễm virus corona tăng lên 31. Babiš xác nhận thêm ba ca]. iDNES.cz (bằng tiếng Séc). 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  9. ^ “โรคติดเชื้อไวรัสโคโรนาสายพันธุ์ใหม่ 2019”. Home | กรมควบคุมโรค (bằng tiếng Thái). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  10. ^ “Greece Announces New Emergency Measures, as Coronavirus Cases Rise to 73” [Hy Lạp đưa ra biện pháp khẩn cấp mới với số ca nhiễm COVID-19 tăng lên 73]. GreekReporter.com. 8 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  11. ^ “Tamil Nadu reports second case of coronavirus, total 40 infected in India” [Tamil Nadu xác nhận ca nhiễm COVID-19 thứ hai, tổng cộng 40 ca tại Ấn Độ]. Hindustan Times. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  12. ^ “Updates on COVID-19 (Coronavirus Disease 2019) Local Situation” [Cập nhân COVID-19 Tình hình địa phương]. 7 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.
  13. ^ Michael, Maggie; Magdy, Samy (7 tháng 3 năm 2020). “Egypt says cruise ship quarantined over new virus cluster” [Ai Cập cách ly du thuyền vì lo ngại cụm virus mới]. Associated Press. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2020.

Covid-19 khác với bệnh cúm thế nào?

Sự bùng phát coronavirus mới đã trở thành tiêu đề trong những bản tin tức nóng gần đây, nhưng đừng quên có một đại dịch virus khác vẫn tấn công các quốc gia trên thế giới: bệnh cúm mùa. Nhưng làm thế nào để so sánh những virus này với nhau, và cái nào thực sự đáng lo ngại hơn?

Cho đến nay, coronavirus mới đã nhiễm đến hơn 100.000 bệnh nhân và làm hơn 3.000 người chết trên toàn thế giới. Nhưng đó không là gì so với cúm. Chỉ riêng ở Hoa Kỳ, cúm đã nhiễm tới khoảng 34 triệu bệnh nhân, 350.000 ca nhập viện và 20.000 ca tử vong trong mùa này, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC).

Điều đó nói rằng, các nhà khoa học đã nghiên cứu cúm mùa trong nhiều thập kỷ. Vì vậy, bất chấp sự nguy hiểm của nó, chúng ta biết rất nhiều về vi rút cúm và những gì sẽ xảy ra mỗi mùa. Ngược lại, rất ít thông tin về coronavirus mới và căn bệnh mà nó gây ra, được đặt tên là COVID-19, vì nó quá mới. Điều này có nghĩa là COVID-19 là một cái gì đó của một quân bài hên xui về mức độ lan rộng của nó và chưa biết bao nhiêu cái chết sẽ gây ra.

Tiến sĩ Anthony Fauci, Giám đốc Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia Mỹ, nói trong một cuộc họp báo của Nhà Trắng vào ngày 31 tháng 1, “Tôi có thể nói rằng mặc dù có tỷ lệ xác định người mắc và tử vong do cúm nhưng tôi có thể đảm bảo với tất cả các bạn rằng, khi chúng ta bước vào tháng 3 và tháng 4, các ca cúm sẽ giảm. Bạn có thể dự đoán khá chính xác phạm vi tử vong là gì và có phải nhập viện không”, Fauci nói. “Vấn đề bây giờ với COVID-19 là có rất nhiều điều chưa biết.”

Các nhà khoa học đang chạy đua để tìm hiểu thêm về COVID-19, và sự hiểu biết của chúng ta về virus gây ra dịch bệnh này và mối đe dọa mà nó gây ra có thể thay đổi khi có thông tin mới. Dựa trên những gì chúng ta biết cho đến nay, dưới đây là cách so sánh COVID-19 với bệnh cúm.

Triệu chứng và mức độ nghiêm trọng

Cả vi rút cúm mùa (bao gồm vi rút cúm A và cúm B) và COVID-19 đều là các vi rút truyền nhiễm gây bệnh đường hô hấp.

Các triệu chứng cúm điển hình bao gồm sốt, ho, đau họng, đau cơ, nhức đầu, chảy nước mũi hoặc nghẹt mũi, mệt mỏi và đôi khi, nôn mửa và tiêu chảy, theo CDC. Các triệu chứng cúm thường xuất hiện đột ngột. Hầu hết những người bị cúm sẽ hồi phục sau chưa đầy hai tuần. Nhưng ở một số người, cúm gây ra các biến chứng, bao gồm viêm phổi. Cho đến nay, với bệnh cúm mùa này, khoảng 1% người dân ở Hoa Kỳ đã phát triển các triệu chứng đủ nghiêm trọng để nhập viện, tương tự như tỷ lệ mùa trước, theo dữ liệu từ CDC.

Với COVID-19, các bác sĩ vẫn đang cố gắng tìm hiểu bức tranh đầy đủ về các triệu chứng và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Các triệu chứng được báo cáo ở bệnh nhân đã thay đổi từ nhẹ đến nặng, và có thể bao gồm sốt, ho và khó thở, theo CDC.

Nhìn chung, các nghiên cứu trên bệnh nhân nhập viện đã phát hiện ra rằng khoảng 83% đến 98% bệnh nhân bị sốt, 76% đến 82% bị ho khan và 11% đến 44% bị mệt mỏi hoặc đau cơ, theo một nghiên cứu đánh giá về COVID -19 xuất bản ngày 28 tháng 2 trên tạp chí JAMA. Các triệu chứng khác, bao gồm đau đầu, đau họng, đau bụng và tiêu chảy, đã được báo cáo, nhưng ít phổ biến hơn.

Trong một nghiên cứu gần đây, được coi là lớn nhất về các trường hợp COVID-19 cho đến nay, các nhà nghiên cứu từ Trung tâm kiểm soát và bảo vệ dịch bệnh Trung Quốc, đã phân tích 44.672 trường hợp được xác nhận tại Trung Quốc trong khoảng thời gian từ ngày 31 tháng 12 năm 2019 đến ngày 11 tháng 2 năm 2020. Trong số đó, 80,9 % (hoặc 36.160 trường hợp) được coi là nhẹ, 13,8% (6.168 trường hợp) nặng và 4,7% (2.087) nguy kịch. Các nhà nghiên cứu viết trong bài báo đăng trên tờ China CDC Weekly rằng “Các trường hợp nguy kịch là những trường hợp biểu hiện suy hô hấp, sốc nhiễm trùng và / hoặc rối loạn chức năng / suy đa tạng”.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), điều quan trọng cần lưu ý là, vì các virus đường hô hấp gây ra các triệu chứng tương tự nhau, nên có thể khó phân biệt các virus đường hô hấp khác nhau chỉ dựa trên các triệu chứng.

Tỉ lệ tử vong

Tỷ lệ tử vong do cúm mùa thường khoảng 0,1% ở Hoa Kỳ, theo tờ New York Times. Tỷ lệ tử vong vì COVID-19 dường như cao hơn so với cúm.

Trong nghiên cứu được công bố vào ngày 18 tháng 2 trên tờ China CDC Weekly, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy tỷ lệ tử vong từ COVID-19 là khoảng 2,3% ở Trung Quốc đại lục. Một nghiên cứu khác với khoảng 1.100 bệnh nhân nhập viện ở Trung Quốc, được công bố vào ngày 28 tháng 2 trên Tạp chí Y học New England, cho thấy tỷ lệ tử vong chung thấp hơn một chút, khoảng 1,4%.

Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong cho COVID-19 dường như thay đổi theo vị trí và tuổi của bệnh nhân, nhiều hơn so với các yếu tố khác. Chẳng hạn, ở tỉnh Hồ Bắc, tâm chấn của vụ dịch, tỷ lệ tử vong đạt 2,9%; tại các tỉnh khác của Trung Quốc, tỷ lệ đó chỉ là 0,4%, theo nghiên cứu của tờ China CDC Weekly. Ngoài ra, người lớn tuổi đã bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Tỷ lệ tử vong tăng vọt lên 14,8% ở những người 80 tuổi trở lên; trong số những người ở độ tuổi 70 đến 79, tỷ lệ tử vong COVID-19 ở Trung Quốc dường như là khoảng 8%; con số này là 3,6% cho những người từ 60 đến 69 tuổi; 1,3% cho 50 đến 59; 0,4% cho nhóm tuổi 40 đến 49; và chỉ 0,2% cho những người từ 10 đến 39 tuổi. Không có trường hợp tử vong ở trẻ em dưới 9 tuổi được báo cáo.

Mặc dù tỷ lệ tử vong vì COVID-19 là chưa rõ ràng, hầu hết các nghiên cứu cho thấy nó cao hơn so với cúm mùa.

Truyền nhiễm virus

Biện pháp mà các nhà khoa học sử dụng để xác định mức độ dễ dàng lây lan của virus được gọi là “hệ số sinh sản cơ bản” hay R0. Đây là ước tính về số người trung bình nhiễm virus từ một người nhiễm bệnh duy nhất, như Live Science đã báo cáo trước đây. Theo The New York Times, vi rút cúm có giá trị R0 khoảng 1,3.

Các nhà nghiên cứu vẫn đang làm việc để xác định R0 cho COVID-19. Các nghiên cứu sơ bộ đã ước tính giá trị R0 của coronavirus mới nằm trong khoảng từ 2 đến 3, theo nghiên cứu đánh giá của JAMA được công bố vào ngày 28 tháng 2. Điều này có nghĩa là mỗi người nhiễm bệnh đã lây lan virus sang trung bình từ 2 đến 3 người.

Điều quan trọng cần lưu ý là R0 không nhất thiết là một số không đổi. Ước tính có thể thay đổi theo vị trí, tùy thuộc vào các yếu tố như tần suất mọi người tiếp xúc với nhau và những nỗ lực để giảm sự lây lan của virus.

Nguy cơ nhiễm trùng

CDC ước tính, trung bình, khoảng 8% dân số Hoa Kỳ bị cúm mỗi mùa.

Tính đến ngày 6 tháng 3, có 260 trường hợp COVID-19 ở Hoa Kỳ, bao gồm cả những trường hợp được phát hiện thông qua giám sát sức khỏe cộng đồng và 48 trong số những người Mỹ đã “hồi hương” tại Hoa Kỳ, những vi rút mới nổi như thế này luôn là mối lo ngại về sức khỏe cộng đồng, theo CDC. Không rõ tình hình với virus này ở Hoa Kỳ sẽ diễn ra như thế nào, cơ quan này cho biết. Một số người, chẳng hạn như nhân viên chăm sóc sức khỏe, có nguy cơ cao bị phơi nhiễm với COVID-19.

Đại dịch

Điều quan trọng cần lưu ý là cúm mùa gây ra dịch bệnh hàng năm, và không nên nhầm lẫn với cúm đại dịch, hoặc sự bùng phát toàn cầu của một loại virus cúm mới rất khác với các chủng thường lưu hành. Điều này xảy ra vào năm 2009 với đại dịch cúm lợn, ước tính đã giết chết từ 151.000 đến 575.000 người trên toàn thế giới, theo CDC. Hiện tại không có đại dịch cúm xảy ra.

Đến nay dịch COVID-19 chưa được tuyên bố là đại dịch. Nhưng vào ngày 30 tháng 1, WHO đã tuyên bố ổ dịch COVID-19 là “tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng đang được quốc tế quan tâm”. Tuyên bố chủ yếu là do lo ngại rằng virus có thể lây lan sang các quốc gia có hệ thống y tế yếu hơn.

Vào ngày 24 tháng 2, Tổng Giám đốc WHO, Tedros Adhanom Ghebreyesus, cho biết virus “hoàn toàn” có khả năng gây ra đại dịch, và các quốc gia, cộng đồng và cá nhân nên tập trung vào việc chuẩn bị ứng phó cho COVID-19.

Phòng ngừa

Không giống như cúm mùa, trong đó có vắc xin để bảo vệ, hiện chưa có vắc xin cho COVID-19. Nhưng các nhà nghiên cứu tại Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ đang trong giai đoạn đầu phát triển. Họ có kế hoạch khởi động thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1 về vắc xin tiềm năng cho COVID-19 trong vòng vài tháng tới.

Nói chung, CDC khuyến nghị những điều sau đây để ngăn ngừa sự lây lan của virus đường hô hấp, bao gồm cả coronavirus và virus cúm:

  • Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng và nước trong ít nhất 20 giây;
  • Tránh chạm vào mắt, mũi và miệng bằng tay không rửa sạch;
  • Tránh tiếp xúc gần với người bị bệnh;
  • Ở nhà khi bạn bị ốm;
  • Làm sạch và khử trùng các vật và bề mặt thường xuyên chạm vào.

Viet’s Post (Theo Live Science)

Bệnh nhân số 21 đã tiếp xúc với 96 người và có thể không lây từ bệnh nhân số 17

Trưa 8-3, phát biểu kết luận cuộc họp Ban chỉ đạo phòng chống dịch COVID-19, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung thông tin bệnh nhân số 21 tiếp xúc với 96 người và có thể không lây từ bệnh nhân số 17.

Với 4 ca bệnh ở Hà Nội, ông Chung thông tin trường hợp bệnh nhân thứ 17 (ca bệnh đầu tiên ở Hà Nội) là chị NHN, địa chỉ 125 Trúc Bạch, đã xác định được đường đi từ Anh về. Khi về sân bay Nội Bài thì được lái xe D.Đ.P. đón về. Sau đó lái xe này cũng đưa bệnh nhân đến Bệnh viện Hồng Ngọc nhưng không đeo khẩu trang.

Bác ruột của bệnh nhân N.H.N. là bà L.T.H. ngồi cạnh trên đường đến Bệnh viện Hồng Ngọc nên cả lái xe và bác ruột đều bị lây từ bệnh nhân N.H.N.

Với bệnh nhân N.Q.T. (bệnh nhân số 21, ngụ đường Nguyễn Khắc Nhu, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình), Chủ tịch UBND TP Hà Nội cho biết ông này đi cùng chuyến bay VN 0054, ngồi ghế 5A, tức là ngồi cạnh bệnh nhân N.H.N.

Bệnh nhân N.Q.T. từ Việt Nam bay qua Ấn Độ, rồi từ Ấn Độ bay qua Anh, sau đó từ Anh bay về Việt Nam trên chuyến bay VN 0054. Theo ông Nguyễn Đức Chung, trên chuyến bay từ Ấn Độ sang Anh, ông N.Q.T. có ngồi cạnh một hành khách người Anh có biểu hiện sốt, ho.

“Trường hợp bệnh nhân N.Q.T. có hai khả năng lây nhiễm, có thể lây nhiễm trên chuyến bay từ Anh về Việt Nam, nhưng khả năng nhiều hơn là lây nhiễm trên chuyến bay từ Ấn Độ đến Anh” -chủ tịch Hà Nội cho biết.

Ông Chung cũng thông tin theo xác định sơ bộ thời gian từ sáng 2-3 đến chiều 6-3, bệnh nhân N.Q.T. đã tiếp xúc với 96 người. Hiện nay vẫn đang trong quá trình xác minh tiếp, tất cả những trường hợp tiếp xúc đã được thông báo và đang cách ly tại cơ sở y tế và gia đình.

Viet’s Post (Theo Tuoitre)

Đã có 29 ca nhiễm Covid-19 tại Việt Nam

Chiều nay 8/3, số ca nhiễm Covid-19 ở Việt Nam đã tăng thêm 8 ca, nâng tổng số ca nhiễm lên 29 ca, trong đó đã có 16 ca được chữa khỏi.

Cách đây ít phút, Bộ Y tế đã công bố thêm 8 ca dương tính với Covid -19 gồm 4 ca ở Quảng Ninh, 2 ca ở Lào Cai, 2 ca ở Đà Nẵng.

Tất cả những ca bệnh này đều là hành khách nước ngoài bay trên chuyến bay VN0054 từ London tới Nội Bài sáng 2/3.

Như vậy, tới thời điểm này, tổng số ca bệnh Covid-19 tại Việt Nam là 29, trong đó 16 ca đã được điều trị khỏi hoàn toàn. 13 ca đang được điều trị cách ly, tình trạng sức khoẻ ổn định.

Viet’s Post

%d bloggers like this: