Archive | Tin khoa học RSS for this section

Virus HPV nguy hiểm gây ung thư bộ phận sinh dục cả nữ và nam

Khoảng 50% dân số thế giới nhiễm loại virus này tại một thời điểm trong đời nhưng phần lớn mọi người không biết mình mắc bệnh.

Loại virus lây dễ, lẩn tránh giỏi

Virus HPV (Human papillomavirus) là một nhóm lớn, đến nay các nhà khoa học đã tìm ra 210 chủng, trong đó có khoảng 40 chủng gây mụn cóc và ung thư vùng sinh dục cả nam và nữ.

TS Nguyễn Đăng Mạnh, Viện trưởng Viện Lâm sàng các bệnh truyền nhiễm, BV Trung ương quân đội 108 cho biết, virus HPV rất phổ biến ở cả nam và nữ. Khoảng 50% dân số thế giới nhiễm loại virus này tại một thời điểm trong đời nhưng đa phần không biểu hiện thành triệu chứng nên chính người bị nhiễm cũng không biết mình mang virus trong cơ thể.

{keywords}
Virus HPV rất dễ lây lan

Virus HPV lây nhiễm qua đường tình dục hay truyền qua nhau do quan hệ tình dục bằng miệng. Cũng có những trường hợp lây nhiễm HPV qua tiếp xúc gián tiếp như dùng chung dụng cụ sinh hoạt như cắt móc tay hay chung dụng cụ y tế chưa được tiệt trùng, vụ nhiều trẻ ở Hưng Yên cùng mắc sùi mào gà là một ví dụ nhưng chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ.

Theo TS Mạnh, thông thường khi virus xâm nhập vào, cơ thể sẽ sinh ra miễn dịch để chống đỡ nhưng chỉ trường hợp có miễn dịch đủ khoẻ mới có thể tiêu diệt hoàn toàn virus.

Các trường hợp còn lại, virus vẫn có thể lẩn tránh được trong cơ thể, khi gặp điều kiện thuận lợi là bùng trở lại, qua thời gian gây tổn thương tế bào hay đột biến tạo thành các khối u.

Một người có thể ủ virus HPV trong thời gian dài, đến khi có các triệu chứng của mụn cóc sinh dục mất vài tuần, vài tháng hay nhiều năm, với ung thư còn lâu hơn nữa.

Riêng với mụn cóc sinh dục, có thể có một hay nhiều nốt với nhiều kích thước và hình dạng khác nhau, phổ biến nhất là sùi mào gà do virus HPV6 gây ra và herpes sinh dục.

Để chữa trị mụn cóc sinh dục, bác sĩ có thể phẫu thuật cắt bỏ nốt sùi, triệt đốt bằng điện, lazer, bôi thuốc…

Chỉ tính riêng sùi mào gà, mỗi năm BV Da liễu Trung ương khám và điều trị cho khoảng 7.000 – 8.000 trường hợp. Sau mỗi năm, số ca mắc mới tăng thêm khoảng 10%. Độ tuổi mắc nhiều nhất từ 15-49.

{keywords}
Hình ảnh mụn cóc sinh dục do HPV

PGS.TS Lê Hữu Doanh, Phó giám đốc BV Da liễu Trung ương cho biết, việc chữa trị sùi mào gà cần nhiều lần và không thể diệt tận gốc virus HPV. Khi mắc sùi mào gà, đồng nghĩa virus ở trong cơ thể suốt đời, khi hệ miễn dịch suy yếu là phát triển trở lại.
Gây ung thư ở cả 2 giới

HPV có thể gây ung thư cổ tử cung và một số bệnh ung thư khác bao gồm ung thư âm hộ, âm đạo, dương vật và hậu môn. HPV còn có thể gây ung thư hầu họng nhưng ít phổ biến hơn.

Ung thư có thể xuất hiện sau khi bệnh nhân bị nhiễm HPV nhiều năm đến vài chục năm.

Với ung thư cổ tử cung ở nữ, chiếm 99 % trường hợp do virus HPV. Có 14 chủng HPV có nguy cơ cao gây ra loại ung thư này trong đó 2 type nguy cơ cao nhất là 16 và 18 (chiếm 70%), kế đó là các type 31, 33 và 45.

GS Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế, nguyên Giám đốc bệnh viện K cho biết, ung thư cổ tử cung tại Việt Nam đang xếp vị trí thứ 10 với gần 4.200 ca mắc mới, tuy nhiên tỉ lệ tử vong lên tới trên 50% với trên 2.400 ca.

So với nhiều loại ung thư khác, tiên lượng điều trị ung thư cổ tử cung khá tốt. Ở giai đoạn sớm, tỉ lệ điều trị thành công lên tới 93%, tuy nhiên ở giai đoạn trễ, tỉ lệ này chỉ còn dưới 15%.

Với nam giới, virus HPV16 và HPV18 có khả năng gây ra khoảng 50% trường hợp ung thư dương vật.

Khi bị ung thư dương vật, biện pháp điều trị chính là phẫu thuật và xạ trị. Càng phát hiện sớm, việc cắt bỏ càng ít, tỉ lệ điều trị khỏi càng cao. Ở những giai đoạn sau, bác sĩ sẽ phải cắt nới rộng phần có khối u, cắt một phần dương vật hoặc hoàn toàn kết hợp nạo vét hạch.

HPV là một loại virus nguy hiểm nhưng các xét nghiệm thông thường không thể phát hiện được loại virus này.

Các xét nghiệm phát hiện HPV hiện chỉ áp dụng với phụ nữ từ 21 tuổi trở lên trong sàng lọc ung thư cổ tử cung.

Trong xét nghiệm Pap, bác sĩ sẽ lấy tế bào cổ tử cung soi dưới kính hiển vi. Nếu nhiễm HPV sẽ thấy sự hiện diện của các tế bào rỗng.

Xét nghiệm HPV thường áp dụng cho phụ nữ từ 30 tuổi trở lên, có thể kết hợp cùng với xét nghiệm Pap. Xét nghiệm này giúp phát hiện các virus gây nhiễm trùng hoặc có thể dẫn tới ung thư.

Hiện nay chưa có thuốc đặc hiệu điều trị HPV, do đó cách đơn giản nhất là tiêm vắc xin ngừa HPV cho cả bé trai và gái độ (bé gái từ 9 tuổi, bé trai từ 12 tuổi) và kéo dài đến 21 tuổi với nam, 26 tuổi với nữ, kể cả đã có quan hệ tình dục. Việc tiêm vắc xin ngừa HPV có thể ngừa được những chủng HPV nguy hiểm như 6, 11, 16 và 18.

Để phát hiện sớm ung thư cổ tử cung, phụ nữ cần định kỳ khám phụ khoa, sàng lọc ung thư cổ tử cung.

Trong sinh hoạt tình dục, cần tuân thủ nguyên tắc một vợ một chồng để hạn chế lây nhiễm HPV. Sử dụng bao cao su chỉ giúp giảm nguy cơ lây nhiễm, không giúp bạn miễn nhiễm hoàn toàn với virus HPV do bao cao su không che phủ được toàn bộ bộ phận sinh dục.

Theo Vietnamnet: Read More

Việt Nam công bố kết quả nuôi cấy virus các ca tái dương tính Covid-19

Kết quả nuôi cấy mẫu virus của các bệnh nhân tái dương tính với Covid-19 cho thấy, virus không phát triển.

Trao đổi với VietNamNet, PGS.TS Lê Thị Quỳnh Mai, Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cho biết, sau khi ghi nhận 9 bệnh nhân Covid-19 tái dương tính trở lại, Viện đã nhận được 5 mẫu bệnh phẩm gửi đến để nuôi cấy lại virus SARS-CoV-2.

Trong số này có 3 mẫu bệnh phẩm gửi từ BV Bệnh nhiệt đới Trung ương của các bệnh nhân 74, 137, 188; 2 mẫu từ Quảng Ninh chuyển lên của bệnh nhân 52 và 149.

“Chúng tôi mới thực hiện nuôi cấy được 3 mẫu nhưng sau 1 tuần nhận thấy virus trong các mẫu này không phát triển”, PGS Mai thông tin.

{keywords}
Chuyên gia của Viện vệ sinh dịch tễ xem hình ảnh nuôi cấy virus SARS-CoV-2

PGS Mai giải thích, việc virus không phát triển có 2 khả năng.

Khả năng thứ nhất, virus rất yếu, không có khả năng nhân lên, không đủ nồng độ lây nhiễm cho tế bào hay khuyếch đại lên tế bào.

Khi được hỏi liệu sau một thời gian, virus có khả năng nhân lên tiếp và lây cho người khác không, PGS Mai khẳng định rất khó xảy ra.

“Tế bào của vật chủ là ‘món ăn’ virus thích nhất rồi. Chúng ta có thể tưởng tượng, virus trong cơ thể bệnh nhân tái dương tính như người già yếu, mình mời thịt gà họ cũng không ăn được, không sống được nên không có khả năng lây cho người khác”, PGS Mai nói.

PGS giải thích thêm, virus SARS-CoV-2 muốn lây được sang cho người khác cần có 3 yếu tố: Thứ nhất, virus phải khoẻ; thứ hai, phải nhân lên và có nồng độ nhất định; thứ ba, lây cho người yếu, vì nếu người khoẻ, khi virus vào cơ thể sẽ bị đánh bật và bị tiêu diệt luôn.

Khả năng thứ hai, cũng có thể là xác virus, dù rất khó nhưng không thể loại trừ.

Theo PGS Mai, đây chỉ là kết quả nuôi cấy lần đầu, Viện sẽ tiếp tục nuôi cấy thêm 2 lần nữa để có khẳng định chính xác.

Tại Việt Nam, trường hợp đầu tiên dương tính sau khi được công bố khỏi bệnh là bệnh nhân 22, quốc tịch Anh, 60 tuổi, điều trị tại BV đa khoa Đà Nẵng.

Kế đó là các bệnh nhân 188, 137, 36, 52, 149, 74, 207 và 224. Trong đó duy nhất trường hợp 188 có triệu chứng ho khan từng cơn, còn lại được phát hiện dương tính trở lại trong quá trình lấy mẫu xét nghiệm để theo dõi.

Đến sáng 28/4, 3 bệnh nhân 36, 52 và 149 đã có kết quả xét nghiệm âm tính trở lại. Số còn lại đang tiếp tục được cách ly, theo dõi.

Bộ Y tế cho biết, việc các bệnh nhân Covid-19 sau khỏi bệnh dương tính trở lại không phải là cá biệt tại Việt Nam. Ngay tại Hàn Quốc cũng gặp phải tình trạng tương tự, hiện có khoảng 160 bệnh nhân dương tính lại sau trung bình 13,5 ngày ra viện.

Đáng lưu ý, đến nay chưa ghi nhận trường hợp nào lây nhiễm Covid-19 từ những bệnh nhân tái dương tính. Tổ chức Y tế Thế giới đang điều tra về các trường hợp này.

Viet’s Post (Theo Vietnamnet: Read More)

NaRoVid1 – Robot Made in Vietnam có khả năng lau sàn, khử khuẩn phòng bệnh

Sau robot khám chữa bệnh và phun xịt khử khuẩn, các nhà khoa học Việt Nam vừa chế tạo thành công thêm một mẫu robot mới với tính năng lau sàn khử khuẩn phòng bệnh.

NaRoVid1 là tên gọi của mẫu robot lau sàn khử khuẩn phòng bệnh Made in Việt Nam. Đây là thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Viện Ứng dụng Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ).

Đề tài nghiên cứu, chế tạo robot lau sàn khử khuẩn phòng bệnh được các nhà khoa học hoàn thành chỉ trong vòng hơn 2 tuần. Các robot NaRoVid1 được chế tạo để hoạt động trong khu vực cách ly. Nhiệm vụ của nó là thay thế, hỗ trợ nhân viên y tế lau sàn nhà bằng chất khử khuẩn.

PGS.TS Mai Anh Tuấn – Trưởng nhóm nghiên cứu Đề tài cho biết, robot có thể chứa tối đa 10 lít dung dịch khử khuẩn trong một lần hoạt động. Khi được sạc đầy, NaRoVid1 có thể làm việc liên tục trong khoảng 2 giờ đồng hồ.

Nhờ được gắn các cảm biến, robot có thể tự động di chuyển, tránh mọi vật cản trên đường đi. Với thiết kế đặc biệt, robot có thể dễ dàng chui xuống dưới giường bệnh, đi vào mọi ngóc ngách của phòng bệnh để vệ sinh và khử khuẩn sạch sẽ.

NaRoVid 1 có khả năng di chuyển theo chu trình do người vận hành thiết lập linh hoạt. Robot sẽ tự động về vị trí sạc sau khi kết thúc chu trình. Đặc biệt, nó có thể khử khuẩn chính mình trước khi đi ra khỏi phòng cách ly. Đây là một tính năng mới, đảm bảo đúng quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn.

Đơn vị phát triển đề tài cho biết, nhờ khả năng chứa dung dịch, mỗi ngày nhân viên y tế chỉ cần bổ sung dung dịch sát khuẩn cho robot 3 lần. Trước đó, mỗi ngày các nhân viên y tế phải thực hiện việc lau dọn thủ công hàng chục lần mỗi ngày ngay trong phòng bệnh.

Trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục cải tiến robot để đáp ứng tốt hơn trong quá trình hoạt động thực tế. Viện Ứng dụng công nghệ sẽ phối hợp với các đơn vị sản xuất để chuyển giao công nghệ, lên phương án sản xuất robot với số lượng lớn, đáp ứng kịp thời cho các bệnh viện, khu vực cách ly khi có yêu cầu.

Theo Thạc sĩ, bác sĩ Trần Minh Quân – Phó Trưởng Khoa Khám bệnh (Bệnh viện nhiệt đới Trung ương cơ sở Kim Chung), việc ứng dụng công nghệ robot sẽ giúp các y bác sĩ tiết kiệm nhiều thời gian, giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm.

Đây là thành công quan trọng, có ý nghĩa to lớn trong lúc dịch bệnh đang diễn biến hết sức phức tạp trên toàn thế giới. Điều này cũng góp phần khẳng định trình độ của các nhà khoa học Việt Nam.

Trước NaRoVid1, nhiều mẫu robot do chính người Việt Nam phát triển đã được nghiên cứu, chế tạo thành công. Đây là những công cụ hỗ trợ đắc lực, được sản xuất cấp tốc để kịp thời, nhanh chóng tham gia vào “cuộc chiến” chống đại dịch.

Viet’s Post (Theo Vietnamnet: Read More)

Một du học sinh Việt Nam tại Hàn Quốc dương tính với Covid-19

Cơ quan y tế Busan (Hàn Quốc) vừa xác nhận bệnh nhân số 124 nhiễm Covid-19 tại đây là một nữ du học sinh Việt Nam.

Ngày 14/4, cơ quan y tế Busan cho biết một du học sinh Việt Nam (20 tuổi) cư trú tại Nam-gu được xác nhận nhiễm Covid-19. “Nữ sinh này nhập cảnh vào Hàn Quốc ngày 6/4 tại sân bay quốc tế Incheon, sau đó qua kiểm dịch vì không xuất hiện các triệu chứng ho sốt nào”, cơ quan y tế thành phố báo cáo.

Đây cũng là bệnh nhân thứ 22 của Busan là ca “ngoại nhập”.

{keywords}

Một du học sinh Việt Nam tại Hàn Quốc dương tính với Covid-19

Hiện cơ quan y tế thành phố đang tiến hành điều tra chi tiết những triệu chứng đầu tiên của nữ du học sinh này, tìm kiếm nguồn lây bệnh và những người tiếp xúc gần với bệnh nhân.

Cũng trong ngày hôm nay, 4 bệnh nhân là cư dân nước ngoài tại Busan đã được xuất viện, trong đó có một du học sinh người Mỹ và một du học sinh người Đức. Tuy nhiên, du học sinh người Đức đã vi phạm các quy tắc “tự cách ly sau khi nhập cảnh” khi đi vòng quanh ĐH Busan, dẫn đến 18 người tiếp xúc gần.

Kể từ ngày 1/4, Hàn Quốc bắt đầu thực thi các biện pháp tự cách ly 14 ngày bắt buộc đối với tất cả những người nhập cảnh, gồm công dân Hàn Quốc và người nước ngoài để ngăn chặn các trường hợp “nhập khẩu virus”.

Hàn Quốc tuyên bố sẽ không khoan nhượng đối với những trường hợp vi phạm các quy tắc kiểm dịch. Những người vi phạm có thể phải ngồi tù tới một năm hoặc phạt tiền tới 10 triệu won (8.200 USD). Người nước ngoài có thể bị trục xuất nếu họ phá vỡ các quy tắc kiểm dịch.

Viet’s Post (Theo Vietnamnet: Read More)

Hơn 40 nhà khoa học gốc Việt có tên trong số 100.000 nhà khoa học thế giới có trích dẫn nhiều nhất

Tạp chí PLoS Biology vừa công bố một danh sách 100,000 nhà khoa học trên thế giới được xếp vào nhóm được trích dẫn nhiều nhất. Tác giả của công bố này là nhóm Metrics của John Ioannidis (ĐH Stanford, Mỹ).

Ioannidis JPA, Baas J, Klavans R, Boyack KW (2019) A standardized citation metrics author database annotated for scientific field. PLoS Biol 17(8): e3000384. https://doi.org/10.1371/journal.pbio.3000384

Theo công bố nói trên, số liệu trích dẫn được sử dụng rộng rãi và cũng được sử dụng sai. Nhóm tác giả đã tạo ra một cơ sở dữ liệu công khai gồm 100.000 nhà khoa học hàng đầu cung cấp thông tin được tiêu chuẩn hóa về trích dẫn, chỉ số h, chỉ số hm điều chỉnh đồng tác giả, số trích dẫn của các bài báo ở các vị trí tác giả khác nhau và các chỉ báo tổng hợp. Dữ liệu riêng biệt được hiển thị cho tác động lâu dài và một năm. Các số liệu có và không có tự trích dẫn và tỷ lệ trích dẫn của các bài báo đã được đưa ra. Các nhà khoa học được phân loại thành 22 lĩnh vực khoa học và 176 chuyên ngành. Tỷ lệ phần trăm dựa theo từng lĩnh vực và chuyên ngành cụ thể cũng được cung cấp cho tất cả các nhà khoa học đã xuất bản ít nhất năm bài báo. Đây là bộ dữ liệu lâu dài trong sự nghiệp nhà khoa học được cập nhật đến cuối năm 2017 và đến cuối năm 2018 để so sánh.

Theo đó, nhóm tác giả đã dùng cơ sở dữ liệu của Scopus từ 1960 đến 2017 của gần 7 triệu tác giả và lọc ra tốp 100.000 người.

Những nhà khoa học gốc Việt trong tốp 100.000 nhà khoa học có trích dẫn nhiều nhất

Các tiêu chí được thống kê để xếp bao gồm: chỉ số H sau khi đã điều chỉnh cho tự trích dẫn, chỉ số H hiệu chỉnh, tỉ lệ tự trích dẫn, xếp hạng trên thế giới, chỉ số hỗn hợp tính từ 6 chỉ số riêng lẻ, hệ số tác giả trong chuyên ngành.

Đáng lưu ý, trong danh sách 100.000 nhà khoa học thế giới này có khoảng hơn 40 nhà khoa học gốc Việt, hiện làm việc ở các trường đại học trên thế giới. Trong số này có nhiều nhà khoa học quen thuộc được nhắc tới trong thời gian gần đây như:

GS Nguyễn Văn Tuấn, nhà khoa học y khoa chuyên về dịch tễ học và di truyền loãng xương, hiện ông là nghiên cứu viên chính tại viện Garvan, Úc.

GS Dang,Chi V,  ĐH  Pennsylvania. Đang,Chi V từng là phó khoa trưởng y khoa của ĐH Johns Hopkins- một trong những ngôi sao về ngành y sáng chói. 

GS Nguyễn Sơn Bình. chuyên ngành thiết kế vật liệu mềm dành cho ứng dụng hóa học trong xúc tác, y học và khoa học vật liệu. Ông hiện làm việc tại Khoa học hóa ĐH Northwestern.

Một số gương mặt quen thuộc khác cũng hiện diện trong bảng này như PGS Nguyễn Xuân Hùng, người lần thứ 5 lọt vào danh sách top các nhà khoa học thế giới ảnh hưởng (nhưng trớ trêu ông từng trượt trong đợt xét tiêu chuẩn giáo sư năm 2016 của Việt Nam).

Bà Nguyễn Thục Quyên, một giáo sư, tiến sĩ người Mỹ gốc Việt hiện đang giảng dạy và nghiên cứu tại đại học California tại Santa Barbara, Mỹ. Bà Quyên cũng là nhà khoa học gốc Việt có tên trong danh sách những nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới.

GS Trương Nguyện Thành, ĐH Utah- Mỹ, hiện đang là Phó hiệu trưởng phụ trách đào tạo của Trường ĐH Văn Lang, người mà 2 năm trước không đủ chuẩn làm Hiệu trưởng Trường ĐH Hoa Sen.

GS Đàm Thanh Sơn, hiện đang giảng dạy ở ĐH Chicago, Mỹ – từng được Trung tâm Vật lý lý thuyết quốc tế trao Giải thưởng và Huy chương Dirac 2018.

Một số thống kê có tính chất tham khảo trong những nhà khoa học gốc Việt (điều này có thể chưa chính xác tuyệt đối do sự khác biệt giưa các chuyên ngành và đẳng cấp):

Nếu tính theo chỉ số H sau khi đã điều chỉnh cho tự trích dẫn, người đứng ở vị trí số 1 là GS Dang, Chi V với chỉ số H78; Tiếp đến là GS Nguyễn Văn Tuấn với chỉ số H 74, GS Nguyễn Sơn Bình với chỉ số H70.

GS Đặng Văn Chí ở ĐH Pennsylvania

Về xếp hạng thế giới, trong số những nhà khoa học gốc Việt, Dang, Chi V có thứ hạng cao nhất ( 1.203 thế giới), tiếp đến là Phan, Sem H. của ĐH Michigan (11.932 thế giới) GS Nguyen, Nam-Trung của ĐH Griffith  (Úc) (14.233 thế giới)

Tiêu chí chỉ số H hiệu chỉnh, xếp đầu trong số nhà khoa học gốc Việt là GS Dang, Chi V của ĐH Pennsylvania; Tiếp đến là GS Nguyễn Sơn Bình…

Riêng GS Đàm Thanh Sơn, hiện tại chưa lấy được dữ liệu nên chưa hiện diện trong bảng này nên chưa thể biết chính xác về xếp hạng của ông.

Hai người Việt lọt top 100 nhà khoa học tiêu biểu châu Á 2019

Hai nhà khoa học của Việt Nam được bình chọn vì có thành tích xuất sắc trong lĩnh vực nghiên cứu y – sinh học.

GS Nguyễn Thanh Liêm (Viện nghiên cứu Tế bào gốc và Công nghệ gene Vinmec)

Danh sách 100 nhà khoa học tiêu biểu của châu Á vừa được Tạp chí khoa học Asian Scientist công bố có tên hai nhà khoa học của Việt Nam gồm GS Nguyễn Thanh Liêm (Viện nghiên cứu Tế bào gốc và Công nghệ gene Vinmec) và TS Nguyễn Thị Hiệp (Trường Đại học Quốc tế, Đại học Quốc gia TPHCM). Người được công nhận trong danh sách này phải có giải thưởng quốc gia hoặc quốc tế vào năm 2018 cho nghiên cứu khoa học quan trọng hoặc lãnh đạo trong học viện, ngành công nghiệp.

TS Nguyễn Thị Hiệp (Trường Đại học Quốc tế, Đại học Quốc gia TPHCM)

GS Nguyễn Thanh Liêm được ghi nhận với nhiều thành tích, từng là bác sĩ ghép tế bào gốc chữa bệnh bại não và tự kỷ đầu tiên ở Việt Nam; trực tiếp phẫu thuật 5 ca song sinh dính liền thuộc loại khó hơn 15 năm trước. Ông cũng có gần 100 công trình khoa học trên các tạp chí quốc tế ở Mỹ và châu Âu. Mới đây nhất là công bố nghiên cứu về giải trình tự gene người Việt. GS Nguyễn Thanh Liêm từng được trao giải thưởng Nikkei châu Á cho khoa học và công nghệ.

Nhà khoa học thứ hai được ghi danh là TS Nguyễn Thị Hiệp, hiện là trưởng bộ môn kỹ thuật y sinh Trường Đại học Quốc tế. TS Hiệp được giải thưởng L’Oreál – UNESCO dành cho các nhà khoa học nữ xuất sắc dưới 40 tuổi năm 2018 vì đã nghiên cứu loại keo có thể dùng để chữa các loại vết thương khác nhau, diệt khuẩn và giảm thời gian tái tạo mô. Chị cũng từng được trao giải nhất Giải thưởng ASEAN- US – 2017 về Giải pháp giảm áp lực lên các thành phố đô thị hóa nhanh – mảng Sức khỏe cộng đồng, ASEAN-2017.

Đây là năm thứ 4 tạp chí Asian Scientist tổ chức bình chọn và công bố danh sách các nhà khoa học hàng đầu khu vực với những nghiên cứu, đổi mới và có đóng góp đáng kể ở nhiều lĩnh vực. Đến nay Việt Nam đã có 7 nhà khoa học lọt vào danh sách bình chọn của Asian Scientist.

Các tạp chí khoa học Việt Nam trong danh mục xếp hạng quốc tế

Tạp chí khoa học đầu tiên của Việt Nam từng được vào ISI

Sau khi được đưa vào cơ sở dữ liệu Scopus từ năm 2014, tạp chí Advances in Natural Sciences: Nanoscience and Nanotechnology (ANSN) do Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam phối hợp với IOP Publishing tại Vương quốc Anh xuất bản đã từng được Thomson Reuters đưa vào cơ sở dữ liệu Science Citation Index Expanded (SCIE) căn cứ vào hệ số tác động IF của ANSN do Thomson Reuters đánh giá trong 12 tháng của năm 2015.

Tạp chí ANSN đã từng được Thomson Reuters đưa vào cơ sở dữ liệu SCIE

Tuy nhiên, hiện tại trên trang web của tạp chí chỉ ghi được xếp trong danh mục Web of Science (ESCI) (https://iopscience.iop.org/journal/2043-6262/page/about-the-journal), nhưng trên web của Web of Science đã không còn thấy tên của tạp chí này trong danh mục cả ESCI và SCIE. Thông tin về việc tạp chí ANSN được đưa vào SCIE của Thomson Reuters cũng không còn được công bố trên website trong 12 tháng gần nhất: http://ip-science.thomsonreuters.com/cgi-bin/jrnlst/jlcovchanges.cgi?PC=D như thông tin đã đăng trên trang web của Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước (http://hdgsnn.gov.vn/tin-tuc/tap-chi-khoa-hoc-dau-tien-cua-viet-nam-duoc-vao-isi_426).

Trong bảng phân loại của SCImago các tạp chí được phân chia thành 4 loại: Q1: gồm các tạp chí chiếm vị trí cao nhất (thuộc top 25%) về IF; Q2: gồm các tạp chí chiếm vị trí trung bình cao về IF (từ top 25% đến top 50%); Q3 gồm các tạp chí chiếm vị trí trung bình thấp về IF (từ top 50% đến top 75%); Q4 gồm các tạp chí đứng ở vị trí thấp còn lại (bottom 25%).

Tạp chí ANSN được SCImago xếp là tạp chí về Kỹ thuật (Engineering) và Khoa học vật liệu (Materials Science). Căn cứ vào IF của ANSN năm 2018 Scopus đã xếp hạng ANSN như sau: Q1 về Kỹ thuật và Q2 về Khoa học vật liệu.

Các tạp chí của Việt Nam được xếp vào danh mục ESCI

ESCI (Emerging Sources Citation Index) là danh mục các tạp chí mới được Thomson Reuters bổ sung từ 2015, bên cạnh các danh mục truyền thống, như SCIE (SCI), SSCI, và A&HCI. Việc bổ sung ESCI giúp mở rộng CSDL Web of Science hướng tới các công bố có phản biện, và chất lượng cao trong các lĩnh vực khoa học mới và quan trọng.

Tạp chí Biomedical Research and Therapy (BMRAT) (ISSN: 2198-4093, E-ISSN: 2198-4093) của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Tp.HCM đã được xếp vào danh mục ESCI trong cơ sở dữ liệu Web of Science của Thomson Reuters. Tạp chí BMRAT xuất bản lần đầu năm 2014, theo định kỳ hàng tháng (12 số/năm), dưới hình thức Open Access, và được xuất bản bởi Nhà xuất bản Springer.

Tạp chí JOURNAL OF SCIENCE-ADVANCED MATERIALS AND DEVICES (ISSN: 2468-2284, E-ISSN: 2468-2179), của Đại học Quốc gia Hà Nội, cũng được xếp trong danh mục ESCI, xuất bản hàng quý (4 số/năm).

Hai tạp chí toán học gồm VIETNAM JOURNAL OF MATHEMATICS (ISSN: 2305-221X, E-ISSN: 2305-2228) và CTA MATHEMATICA VIETNAMICA (ISSN: 0251-4184, E-ISSN: 2315-4144), thực chất đều của Springer ở Singapore, cũng được xếp trong danh mục ESCI, xuất bản hàng quý (4 số/năm).

Bên cạnh đó, trong một số danh mục mang tính chuyên ngành hơn của Web of Science, có xuất hiện một số tạp chí của Việt Nam như một sự “chuẩn bị” để gia nhập chính thức danh mục SCIE sau này.

Ví dụ, trong Danh mục ZOOLOGICAL RECORD:

TAP CHI SINH HOC (ISSN: 0866-7160), Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam

BIRDLIFE INTERNATIONAL VIETNAM PROGRAMME CONSERVATION REPORT, của Tổ chức BIRDLIFE INT VIETNAM PROG tại Hà Nội.

12 Tạp chí Việt Nam được xếp vào hệ thống trích dẫn ASEAN

Từ 2015-2019, đã có 12 Tạp chí Việt Nam được xếp vào danh mục tạp chí thuộc hệ thống ACI (ASEAN Citation Index) – hệ thống trích dẫn ASEAN. Số lượng này còn khá khiêm tốn trong tổng số 587 tạp chí trong danh mục ACI.

Số lượng tạp chí thuộc danh mục ACI của các nước ASEAN
Brunei
(1 Tạp chí
Cambodia
(2 Tạp chí)
Indonesia
(207 Tạp chí)
Malaysia
(119 Tạp chí)
Myanmar
(1 Tạp chí)
Philippines
(46 Tạp chí)
Singapore
(8 Tạp chí)
Thailand
(191 Tạp chí)
Vietnam
(12 Tạp chí)
Danh sách tạp chí Việt Nam thuộc danh mục ACI
Print-ISSNE-ISSNTên tạp chí (tiếng Anh)Tên tạp chí gốc (tiếng địa phương)Quốc giaNăm
2525-2461Vietnam Journal of Science, Technology and EngineeringVietnam2018
0866-71360866-7136Vietnam Journal of MechanicsVietnam2018
2475-18392475-1847Journal of Information and TelecommunicationVietnam2018
0866-7187Vietnam Journal of Earth SciencesVietnam2017
2525-2518Vietnam Journal of Science and TechnologyTạp chí Khoa học và Công nghệVietnam2017
0866-787XDalat University Journal of ScienceTạp chí Khoa học Đại học Đà LạtVietnam2017
2198-4093Biomedical Research and TherapyVietnam2016
1859-0020Journal of Economics and DevelopmentVietnam2015
2615-91122515-964XJournal of Asian Business and Economic StudiesVietnam2015
0868-3166Communications in PhysicsVietnam2019
1859-22442588-123XJournal of Advanced Engineering and ComputationVietnam2019
2196-88882196-8896Vietnam Journal of Computer ScienceVietnam2019

TS Michael Packianather từ Trường Đại học Cardiff đến thăm và trao đổi học thuật tại Trường Đại học Nha Trang

Ngay sau hội thảo lần thứ hai trong khuôn khổ dự án HAPIE (www.vuheie.org) do Hội đồng Anh tài trợ, TS. Michael Packianather, Đại học Cardiff, Anh đã được mời đến nói chuyện về “Sử dụng các công nghệ sản xuất tiên tiến và trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực y khoa, công nghệ thực phẩm, và thuỷ sản” tại Trường Đại học Nha Trang. Đây là một trong những kết quả có hiệu quả của dự án HAPIE với tính bền vững và tính tiếp nối được khẳng định. Buổi nói chuyện có sự tham gia của hơn 30 giảng viên, sinh viên đại học và sau đại học thuộc nhiều khoa và viện nghiên cứu khác nhau thuộc trường Đại học Nha Trang, bao gồm Viện Công nghệ sinh học và Môi trường, Khoa Công nghệ Thực phẩm, Khoa Công nghệ thông tin, Khoa Cơ khí, Khoa Kinh tế …

Michael talk1.jpg

TS Michael Packianather từ Trường Đại học Cardiff

Tiến sĩ Michael Packianather là Giảng viên cao cấp (Senior Lecturer) về Hệ thống Sản xuất (Manufacturing Systems) tại Trường Kỹ thuật, Đại học Cardiff. Ông theo đuổi con đường khoa học khi theo học ngành Kỹ thuật sản xuất (Manufacturing Engineering). Các lĩnh vực nghiên cứu chính của ông bao gồm Hệ thống Sản xuất và Quản lý Thông tin, Khai thác dữ liệu, Học máy, Thiết kế vận hành máy, Quá trình và Hệ thống. Đặc biệt, Tiến sĩ Packianather có nhiều kinh nghiệm làm việc với các đối tác tại Việt Nam. Ông được mời nói chuyện phiên thảo luận toàn thể và làm việc với tư cách là người điều phối hội nghị “Innovation in Teaching, Research and Management in Higher Education” do Hội đồng Anh Việt Nam và SEAMEO RETRACT đồng tổ chức tại Việt Nam từ năm 2011. Ông cũng là điều phối viên của 2 dự án gần đây do Hội đồng Anh tài trợ.

TS. Michael Packianather và những người tham dự buổi nói chuyện tại Trường đại học Nha Trang

Trong bài nói chuyện đặc biệt của mình, ông nhấn mạnh việc sản xuất là chìa khóa nhằm đáp ứng nhu cầu của việc gia tăng dân số. Các tiến bộ gần đây trong sản xuất đã mở ra cơ hội rõ ràng cho ngành kỹ thuật để tìm kiếm các giải pháp sáng tạo trong các ứng dụng khác nhau. Bài trình bày của ông tập trung vào việc sử dụng các công nghệ sản xuất tiên tiến như sản xuất vi mô và nano và các kỹ thuật Trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực y tế nhằm phát triển các giải pháp hiệu quả với chi phí hợp lý và chi phí thấp cũng như trong các ứng dụng khác như công nghệ thực phẩm, nuôi trồng thuỷ sản và nghề cá. Ngoài ra, bài trình bày cũng tập trung vào chuyển giao công nghệ, tạo việc làm, giải quyết tình trạng thiếu hụt nhân lực trong các ngành có tay nghề cao, đào tạo và giáo dục, và phát triển cơ sở hạ tầng.

TS. Michael Packianather (Trường đại học Cardiff) và TS. Nguyễn Văn Duy (Trường đại học Nha Trang) thảo luận hợp tác trong hội thảo của dự án HAPIE tại Hà Nội

Buổi nói chuyện là cơ hội quý giá để những người tham dự có thể tiếp xúc với một chuyên gia về Kỹ thuật và Công nghệ từ Đại học Cardiff, một trong 5 trường đại học hàng đầu về nghiên cứu của Anh Quốc. Buổi nói chuyện kéo dài 2 tiếng đồng hồ với nhiều câu hỏi và thảo luận thú vị đã khép lại nhưng mở ra những tiềm năng hợp tác mới trong đào tạo và nghiên cứu khoa học giữa Trường đại học Cardiff và Trường đại học Nha Trang trong tương lai.

TS. Michael Packianather đang trình bày tại Trường đại học Nha Trang

TS. Michael Packianather nói chuyện về các kỹ thuật sản xuất tiên tiến và trí tuệ nhân tạo

Thu mẫu nấm biển ở Hòn Mun, Vịnh Nha Trang

Hòn Mun là một trong những hòn đảo thơ mộng nhất trong hệ thống đảo của Nha Trang. Hòn Mun cách cảng Cầu Đá 10 km (khoảng 45 phút đi tàu). Không chỉ hấp dẫn bởi cát trắng, biển xanh, những tổ yến hoang sơ trên cheo leo vách đá… nơi đây còn nổi tiếng là một trong những “thủy cung” “giàu và đẹp” nhất của biển Đông Nam Á. Nơi đây còn nổi tiếng có nhiều dịch vụ biển và khám phá biển bằng tàu đáy kính và dịch vụ lặn biển.
Được gọi là Hòn Mun vì phía Đông Nam của đảo có những mỏm đá nhô cao, vách dựng hiểm trở tạo thành hang động, đặc biệt đá ở đây đen tuyền như gỗ mun, rất hiếm thấy ở những nơi khác.


Tổng diện tích của toàn bộ khu bảo tồn là 160 km2, trong đó 122 km2 là diện tích mặt biển, 38 km2 là tổng diện tích của các hòn đảo. Hòn Mun với rạn san hô và hệ sinh vật biển đa dạng, phong phú là khu bảo tồn biển đầu tiên và duy nhất của Việt Nam hiện nay, đã được Quỹ Ðộng vật hoang dã thế giới (WWF) đánh giá là khu vực đa dạng sinh học biển bậc nhất ở Việt Nam, đặc biệt rất phong phú về san hô, hiện tại đã phát hiện được khoảng 350 loài.
Hệ sinh thái động, thực vật biển ở đây vô cùng phong phú. Theo thống kê trên thế giới có khoảng 2.000 loài san hô và sinh vật biển thì ở Hòn Mun đã có tới 1.500 loài.
Ở Hòn Mun, san hô nằm ở độ sâu 10m, cùng với rất nhiều loại cá đủ mà sắc và chủng loại. Với độ sâu dưới 18 m, thì không còn cảnh đẹp của san hô, nhưng có rất nhiều hang động. Có những hang sâu 10–15 m, phải dùng đèn để quan sát những sinh vật biển chuyên sống trong bóng tối như tôm, mực, tôm hùm, cá đuối…

 

Hội thảo về Khung trình độ quốc gia Việt Nam và Phát triển chương trình đào tạo đại học

Ngày 18 tháng 10 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1982/QĐ-TTg về việc phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam (Vietnamese Qualifications Framework – VQF). Theo đó, vấn đề đặt ra cho các cơ sở giáo dục đại học là cần điều chỉnh, cập nhật chương trình đào tạo của mình như thế nào để kết quả học tập của người học đáp ứng chuẩn đầu ra được quy định tại Khung trình độ quốc gia Việt Nam cũng như đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp hay các bên sử dụng lao động không chỉ Việt Nam mà cả các nước trong khu vực và trên thế giới.
Để chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, những khó khăn, thách thức trong việc cải tiến các chương trình đào tạo đại học, giúp người học có khả năng tìm được việc làm cũng như thích ứng với công việc ngay sau khi tốt nghiệp, Trường Đại học Nha Trang, Viện Khoa học và Đổi mới công nghệ, và Trường Đại học Bang Arizona đã phối hợp tổ chức Hội thảo về Khung trình độ quốc gia Việt Nam và Phát triển chương trình đào tạo đại học.
Hội thảo nhận được sự tham gia của khoảng 200 nhà khoa học, học giả, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục đến từ 54 trường đại học, cao đẳng và doanh nghiệp trong và ngoài nước. Các bài báo tại Hội thảo tập trung vào các chủ đề : (1) Xây dựng Chuẩn đầu ra; (2) Vai trò của các bên liên quan trong xây dựng Chuẩn đầu ra; (3) Đánh giá Chuẩn đầu ra; (4) Niềm tin của người học và doanh nghiệp đối với các cơ sở giáo dục đại học; và (5) Nâng cao năng lực giảng viên.
Quang cảnh Hội thảo

Trong khuôn khổ dự án HAPIE (http://vuheie.org/) do Hội đồng Anh tài trợ, chúng tôi đã công bố 2 bài báo trong Hội thảo quan trọng này.

Các thầy cô ở đại học Nha Trang trong dự án HAPIE tham dự Hội thảo

1) ASSESSING AWARENESS AND ATTITUDE OF THE LEARNERS AND TEACHERS ABOUT STUDENTS’ EMPLOYABILITY IN NHA TRANG CITY TO SUPPORT HIGH-QUALITY HUMAN RESOURCE TRAINING TOWARDS INTERNATIONAL STANDARDIZATION

by Do Thuy Trinh1*, Le Chi Hieu2, Mai Anh Tuan3, Le Bao Trung4, Tran Duc Tang5, and Nguyen Van Duy1,

1Nha Trang University, No. 2 Nguyen Dinh Chieu Str., Nha Trang – Vietnam
2University of Greenwich, Park Row London SE 109LS, UK
3Hanoi University of Science and Technology, No. 1, Dai Co Viet Road, Hanoi -Vietnam
4Thuyloi University, No. 175 Tay Son, Hanoi -Vietnam
5Le Quy Don University, 236 Hoang Quoc Viet Road, Hanoi -Vietnam
*Email: trinhdt@ntu.edu.vn

Abstract

According to the official statistics, over 225,000 undergraduate and postgraduate students are unemployed in 2016, a double increase compared to 2010, are alarming figures of learners’ employability in Vietnam. Within the scope of HAPIE project (www.vuheie.org) between Vietnam and United Kingdom, this research aimed to assess the awareness and attitudes of learners and teachers in enhancing the quality of human resource training in Vietnam towards international standardization. We surveyed 503 opinions of lecturers, pupils and students in Nha Trang city about ability to find a job after graduation. The result showed that 43.8% of pupils and students chose experience before graduation which is the most important factor when applying for a job, while the most prioritized factor is ‘suitable speciality’ when chosing a certain job in companies (36.2%). However, 52.4% of those are willing to choose another works which are not relevant with their major if not finding the right specialized job. As regards lecturers, 73.6% said that using appropriate teaching methods can enhance students’ employability. Nevertheless, 52.9% of them had no comments about the development of new syllabus, especially the programs related to the Innovation and Entrepreneurship (73.6%). This indicated that such contents are rather limited at university. From this point, this research proposes policy solution to improve students’ employability that contributed to high-quality human resource training in Vietnam towards international standardization.

Key words: attitude, awareness, employability, high-quality human resources

Read the Fulltext

2) ENHANCEMENT OF HIGH QUALITY HUMAN RESOURCE IN VIETNAM THROUGH UNIVERSITY AND ENTERPRISE COLLABORATION

by Tran Hong Thuy1, Le Chi Hieu2, Nguyen Van Duy3, Tran Duc Tang4, Le Bao Trung5 and Mai Anh Tuan1

1Hanoi University of Science and Technology, No. 1, Dai Co Viet Road, Hanoi -Vietnam
2University of Greenwich, Park Row London SE 109LS, The United Kingdom
3Nha Trang University, No. 2 Nguyen Dinh Chieu Str., Nha Trang – Vietnam
4Le Quy Don University, 236 Hoang Quoc Viet Road, Hanoi -Vietnam
5Thuyloi University, No. 175 Tay Son, Hanoi -Vietnam
Email: thuy.tranhong@hust.edu.vn

Abstract

According to recent analysis, in Vietnam, more than 220 thousand students could not find a decent work after their graduation in 2016. One of the reasons for the above-mentioned fact is that the essential skills that a student holds do not meet the requirements of the company in terms of research, development as well as business activities. In higher education, the employability is a sustainable and meaningful topic that attracts attention of many research centres and universities. Enhancement of the student’s employability has become a key and important factor in the development of a university because it is one of a must-have evaluation categories of the society about ranking a university. Collaboration between enterprises and research groups in universities will contribute to improve the skills of the students in research, manufacturing and, in turn, enhance their employability after the graduation.

Keywords: Decent work, university-enterprise collaboration, employability

Read the Fulltext

PGS.TS Trang Sĩ Trung, Hiệu trưởng đại học Nha Trang

TS. Kathy Wigal, Associate Director of Curricular Innovation, BUILD-IT Project Director

TS. Chantavit Sujatanond, Director, SEAMEO RIHED, Thailand

More in YouTube:

%d bloggers like this: