Archive | Du lịch RSS for this section

Sự miễn nhiễm bí ẩn với Covid-19 của đảo du lịch Bali

Hòn đảo nổi tiếng của Indonesia có ít ca nhiễm bệnh trong khi dịch Covid-19 đang hoành hành ở các vùng khác của đất nước này.

Trong đợt dịch kéo dài 3 tháng qua, Bali, khu du lịch nổi tiếng của Indonesia, dường như vẫn chưa bị tác động quá lớn. Tới ngày 17/4, trên đảo có 124 trường hợp nhiễm virus nCoV được công bố, hai người chết.

Trong khi đó, đất nước vạn đảo Indonesia bị coi là quả bom virus corona nổ chậm của cả Đông Nam Á với số lượng bệnh nhân gần 6.000 người, 520 người chết.

“Tôi cũng thấy khá thắc mắc. Chúng ta không có các con số thống kê khác nhưng cũng không có dấu hiệu số người chết tăng đột biến ở đảo”, anh Rio Helmi, một cư dân, nói về số bệnh nhân khá thấp của đảo.

{keywords}

Bãi biển Kuta thường đông nghẹt khách giờ trở nên vắng lặng. Ảnh: Aljazeera

Hiện cũng không có bất cứ các thông tin nào về sự quá tải ở các bệnh viện, nơi hỏa táng hay bằng chứng virus nCoV đang lan tràn trên hòn đảo có 4,2 triệu dân với hàng nghìn người nước ngoài định cư.

Theo người dân địa phương, ngôi làng ven biển Pererenan, địa điểm lướt sóng quen thuộc, chưa có trường hợp nào mắc bệnh Covid-19. Các làng lân cận cũng sạch bóng virus nCoV.

“Chúng tôi không nghe thấy thông tin về số lượng người chết cao ở đây”, anh Jack Daniels nói. Anh là nhà điều hành tour du lịch lâu năm trên đảo và là biên tập của thư điện tử định kỳ Balidiscovery.

Anh Daniels cho hay, hai người chết vì Covid-19 trên đảo đều là người nước ngoài, trong đó có một phụ nữ người Anh có bệnh nền.

Thủ phủ Denpasar của Bali có 3 trung tâm hỏa táng không có vẻ đông hơn thường lệ.

Các bệnh viện tư hiện chỉ cung cấp dịch vụ xét nghiệm sàng lọc. Nhưng một bác sĩ tư cho biết, ông chỉ mới gửi 2-3 trường hợp nghi ngờ tới các bệnh viện công trong nửa tháng qua nhưng không có phản hồi, có thể để đảm bảo thông tin cá nhân của người bệnh.

Trên thực tế, các bệnh viện công từ chối công bố các thông tin có thể sai khác với dữ liệu của Bộ Y tế Indonesia. Theo Bộ này, quần đảo Nusa Tenggara (gần Bali) với 9,8 triệu dân cũng chỉ có 38 người nhiễm nCoV và 2 người chết vì Covid-19.

Ngày 13/4, Tổng thống Joko Widodo tuyên bố tình trạng khẩn cấp quốc gia và kêu gọi các quan chức minh bạch hơn trong việc cung cấp thông tin. Thủ đô Jakarta và các tỉnh lân cận West Java, Banten áp dụng một loạt các giới hạn hoạt động xã hội mới.

Bộ trưởng Y tế Terawan Agus Putranto cũng được yêu cầu nâng số xét nghiệm nCoV lên 10.000 ca mỗi ngày.

{keywords}

Ngành du lịch, nguồn thu chính của Bali, bị trì trệ khi khách du lịch không được nhập cảnh, mọi lễ hội bị hủy bỏ. Ảnh: EPA

Tình hình của Bali gây khó hiểu bởi vào tháng 1, số lượng khách Trung Quốc tới đây tăng 3% so với cùng kỳ năm ngoái. Đó cũng là thời điểm tâm dịch Vũ Hán (Trung Quốc) bị phong tỏa. Tuy nhiên, khách Trung Quốc vẫn tiếp tục tới Bali cho tới ngày 5/2 khi chính quyền đảo cấm nhập cảnh tất cả những người từng ở Trung Quốc trong 14 ngày trước đó.

Tất cả khách nước ngoài ngừng tới Bali vào ngày 31/3. Hiện tại, người dân trên đảo được yêu cầu ở nhà, làm việc từ xa và tuân theo các quy định giãn cách xã hội. Chỉ các cửa hàng thực phẩm và đồ thiết yếu được mở. Phần lớn các nhà hàng, quán bar đóng cửa, chỉ cung cấp dịch vụ đem đồ tới nhà. Các lễ hội, sự kiện đều bị hủy bỏ.

Tuy nhiên, vẫn có tới 20.000 người Bali làm việc trong ngành công nghiệp du thuyền quốc tế bị coi là nơi tiềm ẩn virus. Họ trở về đảo mà không bị cách ly.

Năm 2019, một nửa trong số 5 triệu du khách tới Bali là người Australia và Trung Quốc. Các nhà kinh tế và chuyên gia du lịch cho rằng phải mất một năm để ngành công nghiệp này phục hồi.

Theo các nguồn tin ngoại giao, vẫn còn 5.000 người Australia ở Bali. Nhiều người đang kinh doanh ở đây hoặc tận hưởng những ngày tháng hưu trí. Ngoài ra cũng còn rất nhiều người nước ngoài đủ mọi quốc tịch khác nhau sinh sống ở đây.

Ngày 1/4, Hiệp hội Nhà hàng và Khách sạn Indonesia đã công bố danh sách 1.149 khách sạn phải đóng cửa do dịch bệnh, trong đó có 270 khu nghỉ ở Bali. Các quan chức cho hay, bản danh sách sẽ dài thêm mỗi ngày khi tỷ lệ kín phòng ở những khách sạn đang mở chỉ còn dưới 10%.

Hiệp hội Khách sạn Bali bác bỏ các thông tin trên mạng xã hội rằng những khu nghỉ hạng nhất trên đảo được rao bán. Nhưng họ thừa nhận rất nhiều khách sạn trong 170 khu nghỉ 4-5 sao đang tạm thời đóng cửa.

Ngoài dịch Covid-19, các nhân viên y tế ở Bali còn phải đối mặt với sự bùng nổ của một dịch bệnh khác: sốt xuất huyết. Căn bệnh này cũng có một số triệu chứng giống Covid-19.

Những cơn mưa gần đây đã khiến cho tỷ lệ nhiễm sốt xuất huyết ở Bali tăng lên, riêng khu Ubud có tới 2.000 ca.

Viet’s Post (Theo Asia Times, Bali.com và Vietnamnet: Read More)

Trên Vịnh Hạ Long

Em có nhận ra điều gì không?
Đang trôi cùng chúng ta trên Vịnh Hạ Long
Trăm thuyền mơ cánh buồm vỗ cánh
Bay lên với ngàn vảy rồng
Ngàn gương mặt của đá rêu xanh
Với nếp gấp ngàn năm thẳng tắp
Gương mặt hồ phẳng lặng
Đựng trời
Đựng sóng
Đựng thời gian

Em có nhận ra điều gì không?
Đang trôi cùng chúng ta trên Vịnh Hạ Long
Đất nước những ngày thái bình
Tình yêu không tiếng
Đang trôi đi
Điều tử tế và thiêng liêng
Trong nắng
Em áo trắng
Đang trôi đi

Em có nhận ra điều gì không?
Đang trôi cùng chúng ta trên Vịnh Hạ Long
Trăng là ánh sáng cao xa thành thật
Nụ cười em gió mát trong lành
Phía sau kia, gương mặt đá rêu xanh
Với nếp gấp ngàn năm thẳng tắp
Phía sau nữa, gương mặt hồ phẳng lặng
Đựng gió
Đựng mây ngàn
Đựng thủy triều trăng

Em có nhận ra điều gì không?
Đang trôi cùng chúng ta trên Vịnh Hạ Long
Những con nước nhận nụ hôn thật kêu
Từ chiếc thuyền gọi thời gian thức dậy
Gương mặt đá nhận nụ hôn rực đỏ
Từ bình minh ôm mộng mị giăng đầy
Hỡi tia sáng, như chim lành vỗ cánh
Từ giấc mơ giữa lồng ngực gió mây

Em có nhận ra điều gì?
Còn em ở đó
Còn ai trôi đi

2017
Cao La Tứ Hải

Thơ hay về Tam Đảo

Em về Tam Đảo

Em về Tam Đảo sáng nay
Chuyến xe đi giữa màu mây ngoằn ngoèo
Dốc cao, xe chầm chậm leo
Nhìn quanh chỉ thấy là đèo dốc thôi

Bỗng nhiên mây biến tan rồi
Xe dừng trên đỉnh… tuyệt vời! đẹp chưa!
Ngập ngừng cái nắng ban trưa
Sáng lên với đám mây vừa bay qua

Nào sương nào khói la đà
Mắt em bỡ ngỡ như là trong mơ
Nắng xuyên qua lớp mây mờ
Núi đồi nghiêng xuống một bờ cỏ hoa

Nhà gần ấp ủ nhà xa
Nhấp nhô những chiếc nấm hoa lưng đồi
Su su mươn mướt xanh tươi
Thiên nhiên vẽ một khung trời biếc xanh

Em về Tam Đảo cùng anh
Nghe con suối chảy trên nhành mây bay.

Nguyễn Lãm Thắng

Chiều Tam Đảo

Mượn gió vẽ mây giữa cổng trời
Tam Đảo chiều hạ thực cảnh tiên
Sương khói giăng giăng dòng thác bạc
Nhà thờ đá cổ, áo rêu phong

Giọt nắng lung linh rơi tí tách
Nhỏ lên từng bậc lối đi vào
Đền tranh ngói đỏ, ngàn mây trắng
Huyền ảo linh thiêng, chúa thượng ngàn.

Đủng đỉnh men theo hành lang nhỏ
Mây bò lổm nhổm quyện gót hồng
Sơn nữ mê say quên bện tóc
Gió se se lạnh búng má đào

Một thoáng dừng chân nơi Tam Đảo
Mặc hồn quấn quýt với cỏ cây
Lẩn thẩn mê say về chẳng kịp
Để hình quên bóng, nhớ trời mây

Tony Pham, 31/8/17

Có về Tam Đảo với em?

Về đây Tam Đảo với em
Ta leo dốc núi, ta len mây trời
Khói sương huyền ảo chơi vơi
“Đà Lạt xứ Bắc” tuyệt vời đó anh…

Tạm xa ồn ã thị thành
Cùng em làm cuộc du hành thi ca
Đến nơi ba ngọn núi xa
Người xưa đã ví “mái nhà ngàn xưa”…

Một ngày mang cả bốn mùa
Se se buổi sáng như vừa sang xuân
Sợi mây trưa hạ mảnh dần
Thu chiều bỗng đến… tần ngần lá rơi!
Thềm đông mờ ảo trăng soi…
Ôi!
“Ba Hòn Đảo”
… mây trôi đại ngàn…
Như là linh khí nước Nam
Ứng vào Thác Bạc, trời ban tặng người
Thông giăng trùng điệp lưng trời
Chim kêu, vượn hót níu người khách xa
Tứ thơ chợt đến… ngân… nga…
Bên ô cửa sổ ngát hoa hải đường
Cho người Thi sĩ vấn vương
Hồn thơ, hồn nhạc lẫn sương khói mờ…!

Một ngày Tam Đảo như mơ
Bồng Lai Tiên Cảnh… vẫn chờ Thi Nhân…

Trần Trọng Tâm (24/06/2013) 

Chùm thơ tình Tam Đảo (TÀY – VIỆT – NGA)

I. Bản tiếng Tày:

Gần mừa Tam Đảo mươi bân    
Gần đeo bản cáu rủng ngần Nà Phiêng
Pướng phjôm đàn moóc a sliên
Tẳng tha hăn nội mjửt miền gản thâng…

Bản tiếng Việt:    

Người lên Tam Đảo mây trời
Người nơi quê cũ rực ngời Nà Phiêng
Phím mây áng tóc nàng tiên
Ngẩng nhìn đã thấy ảo huyền choàng vai…

Bản dịch nghĩa của tác giả sang tiếng Nga:

Я поднимался на туманную гору Там Дао
Ты осталась в ярком родимом крае На Фиенг
Туманная клавиша как  нежные волосы небожительницы
Только поднял голову и чувствовал мираж  на плече …

II. Bản tiếng Tày:

Hây mừa Tam Đảo gần đeo
D’ẩp d’oàng mươi moóc, d’ủp d’ièo khuổi sli
Lẳc thư ăn nậu mằn ki
Khay pha mừng: Toọi hăn rì keng mươi…

Bản tiếng Việt:

Mình lên Tam Đảo một mình
Bồng bềnh mây núi, trùng trình  suối reo
Lén mang ánh mắt mình theo
Xoè tay chỉ thấy nỗi đèo sương giăng…

Bản dịch nghĩa của tác giả sang tiếng Nga:    

Только один я поднимался на гору Там Дао
Качались облака и в нерешительности ручей пел
Тайком носил c собой твои прекрасные глаза
Раскрывал руку и  чувствовал только переживания туманного перевала…

III. Bản tiếng Tày:

Bản rà Nà Pẳng têm hai
Bại slì slíp hả mảc lai miểu màu
Nà Phiêng d’úp d’ưởng pàn khau
Pướng đeo ội slúc lủng làu hom quây…

Bản tiếng Việt:

Bản mình Nà Pẳng đầy trăng
Nhất là những dịp mùa rằm chơi vơi
Nà Phiêng e ấp bên đồi
Một vầng ổi chín thơm hoài tuổi thơ…

Bản dịch nghĩa của tác giả sang tiếng Nga:

У нашего села На Панг полная луна
Особенно когда наступают затерявшиеся полнолуния
На Фиенг у холма смущается
Аромат спелой гуайявы  приятно пахнет с детства …

IV. Bản tiếng Tày:

Nậu khua slao, ốt đâư thông
Khửn khau pjói khảu vạ luông quảng roàng
Khay thông, rối nỏ… pjấu chang
Khẻo đây nậu bjoóc mà tang lương p’jòi…

Bản tiếng Việt:

Nụ cười em, nhốt cặp rồi
Để lên núi thả vào trời mênh mông
Chao ôi, mở cặp: Rỗng không
Cũng may lại thấy một bông hoa vàng…

Bản dịch nghĩa của tác giả sang tiếng Nga:

Твою улыбку я уже держал в портфеле
И на горе буду выпускать её в бескрайнее небо
Ах, открываю портфель и была пустота
Ещё везение … там  лежит жёлтый цветочек

Triệu Lam Châu

Nhớ Tam Đảo

Ta quen nhau giữa một chiều Tam Đảo
Rồi xa nhau
Em cũng xa luôn Tam Đảo
Có ai ngờ
Khắp mọi ngã đời sương trắng ngẩn ngơ
Anh về giữa miền Trung sóng biển
Trong giấc mơ thảng thốt gió đại ngàn
Thoáng áo em bay giữa chiều Thác Bạc
Tỉnh giấc rồi đêm tối ngổn ngang
Ước một lần trở về Tam Đảo
Lại gặp em giữa cầu đá Đợi Chờ
Lại dắt tay nhau lên thăm đềnBà Chúa
Lại hẹn hò dưới dêm lạnh như xưa
Cách trở quá biết bao giờ gặp lại
Cầu đá xưa chắc chẳng đợi chờ ta
Miền quê ngoại đồi chè rừng cọ
Cứ xa dần theo những tháng năm xa…

Thuận Hữu

Gửi em từ Tam Đảo

Hạ nồng Hà Nội nắng ran rang

Chợt gặp xuân xanh giữa non ngàn

Quen em chưa đủ trăng tròn khuyết

Anh lên Tam Đảo mùa mênh mang…

*

Buổi sáng rong chân tắm cỏ xuân

Hơi hạ ban trưa đất ấm dần

Lênh lang ngọn gió chiều thu trắng

Đêm lạ lòng ta hồn đông sang…

*

Ngày mới phết lên một nét màu

Mây trắng len bồng ô cửa sau

Có bóng ai xà sườn núi mộng?

Su su xanh mát, em nấp đâu?

*

Anh lặn bóng cây tìm tiếng hót

Rừng ngân phím lá tự tình ca

Kìa đóa trà vàng sương ngưng giọt

Làm cho cánh bướm ngẩn đường hoa

*

Nắng bạc trườn lên giát sườn đồi

Sương ngậm vòm mây cây chẳng trôi

Hơi ấm dâng tràn lòng thung khát

Mùa hè rạng rỡ, Tam Đảo ơi!

*

Ba đảo bồng bềnh giữa biển mây

Ngắm thế Tản Viên ba ngọn say

Sông Hồng kéo vệt dài mong nhớ

Biển Đông đón đợi ước mơ trai

*

Anh vốn là con đất miền bằng

Như con chim nhỏ miết đồng xanh

Trưa nay tung liệng trên non nắng

Say ngắm giang sơn biếc long lanh

*

Mỗi bước anh đi sáng ánh trời

Hồn vương đất lạ đá chơi vơi

Cánh cung Tam Đảo như niềm ước

Đón gió lạnh đông ấm cuộc đời

*

Em ạ, anh đang giữa ngày vui

Cứ ngỡ em là cỏ non tươi

Cỏ mềm níu đất đơm hoa núi

Núi thế vươn cao đón ánh trời!

Cao La Tứ Hải (6/2002)

Xem thêm

Non nước Tràng An – Vịnh Hạ Long trên cạn

Quần thể danh thắng Tràng An là một vùng du lịch tổng hợp gồm các di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới do UNESCO công nhận ở Ninh Bình, Việt Nam. Trước đó, nhiều di tích danh thắng nơi đây đã được Chính phủ Việt Nam xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt quan trọng như Khu du lịch sinh thái Tràng An, khu du lịch Tam Cốc – Bích Động, chùa Bái Đính, cố đô Hoa Lư… Liên kết giữa các khu vực này là hệ sinh thái rừng đặc dụng Hoa Lư trên núi đá vôi, đất ngập nước và hệ thống sông, hồ, đầm với diện tích 12.252 ha.

Non nước Tràng An xanh và đẹp (Video: Duy Post)

Quần thể di sản thế giới Tràng An mang trong mình những khung cảnh thiên nhiên độc đáo từ đá núi, hệ sinh thái, rừng cây, thảm thực vật, đồng lúa, hồ đầm và những tuyến du thuyền trên sông Ngô Đồng, suối Tiên, sông Vọc, sông Sào Khê, sông Đền Vối, sông Bến Đang. Nơi đây sở hữu những hang động đẹp như động Thiên Hà, động Thiên Thanh, động Tiên, động Tiên Cá, động Vái Giời, động Thủy Cung, hang Bụt, hang Tam Cốc, hang động Tràng An, hang Sinh Dược; những di chỉ khảo cổ học có giá trị như hang Mòi, hang Bói, hang Trống, mái Ốc, thung Bình, thành Hoa Lư; những di tích lịch sử nổi tiếng gắn với 4 vương triều Đinh – Lê – Lý – Trần như cung điện Hoa Lư, đền Vua Đinh-Vua Lê, chùa Bích Động, chùa Bái Đính, hành cung Vũ Lâm, đền Thái Vi, đền Trần, đền Suối Tiên hay những thắng cảnh khác như vườn chim thung Nham, thung Nắng, hang Múa, rừng đặc dụng Hoa Lư…

Khu du lịch sinh thái Tràng An (Ảnh: Duy Post)

Di sản thiên nhiên thế giới

Quần thể danh thắng Tràng An có giá trị nổi bật toàn cầu với 2 tiêu chí VII và VIII của một di sản thiên nhiên thế giới.

Vẻ đẹp nổi bật toàn cầu

Tràng An là một trong những nơi có cảnh quan tháp karst đẹp và quyến rũ nhất trên thế giới. Phủ lên cảnh quan là thảm rừng và các tháp dạng nón hùng vĩ cao 200m, với các hố trũng hẹp khép kín, bao quanh bởi các sống núi nối liền nhau, các đầm lầy thông nhau qua hệ thống suối xuyên ngầm có chiều dài lên tới 1 km. Vẻ hài hòa của đá, sông nước, rừng cây và bầu trời ở Tràng An tạo nên một thế giới tự nhiên sống động đầy quyến rũ. Đó là nơi rất đặc biệt, nơi văn hóa tiếp xúc với kỳ quan, bí ẩn và vẻ hùng vĩ của thế giới tự nhiên, và văn hóa cũng bị biến đổi bởi chính những điều đó.

Tràng An có thiên nhiên tươi đẹp với những ngọn núi, hang động huyền bí, và sông nước thanh tĩnh (Ảnh: Duy Post)

Tràng An có thiên nhiên tươi đẹp với những ngọn núi, hang động huyền bí, sông nước thanh tĩnh, những di tích linh thiêng và những hệ động, thực vật phong phú, quý hiếm. Khu rừng văn hóa lịch sử môi trường Hoa Lư điển hình là một vùng cát-tơ đá vôi trồi lên giữa vùng đồng bằng ven biển tương đối bằng phẳng của Miền Bắc Việt Nam. Vùng đá vôi nổi lên này nằm xen kẽ với hàng loạt các khe suối có nước thường xuyên và các thung lũng ngập nước theo mùa. Độ cao tuyệt đối của vùng từ 10 đến 281 m. Thảm thực vật tự nhiên ở Hoa Lư là rừng trên núi đá vôi và rừng thường xanh trên đất thấp ở các thung lũng đan xen giữa các vùng đá vôi. Có khá nhiều hang động đẹp ở khu vực như: động Thiên Hà, động Vái Giời, động Tiên Cá, động Ba Cô, động Tiên, động Thủy Cung, hang Bụt, hang Sinh Dược… cùng với rừng núi và sông nước tạo nên những tuyến du lịch nổi tiếng như Tràng An, Tam Cốc – Bích Động. Có những con sông chảy qua vùng Tam Cốc và Tràng An để du khách có thể đi thăm khu vực này bằng thuyền.

Kiến tạo địa chất độc đáo

Tràng An minh chứng cho các giai đoạn cuối cùng của quá trình tiến hóa karst trong môi trường khí hậu nhiệt đới ẩm. Sự đa dạng địa chất địa mạo hiện diện tại Quần thể danh thắng Tràng An là kết quả từ các hoạt động địa chất liên tục qua hàng trăm triệu năm từ kỷ Trias đến Đệ Tứ. Trong suốt chính thời gian này, sự sụp đổ địa mạo và phân chia cao các khối núi Karst đá vôi trầm tích khổng lồ đã sảy ra ở đây. Chính những sự kiện địa chất này đã tạo ra những vùng núi hoang sơ và quyến rũ, các thung lũng trầm tích và các hố sụt mà cùng nhau dã có được kết quả trong sự đa dạng biểu mẫu, đại chất địa mạo, hang động và các hệ thống nước của Quần thể danh thắng Tràng An.

Sự đa dạng địa chất địa mạo hiện diện tại Quần thể danh thắng Tràng An là kết quả từ các hoạt động địa chất liên tục qua hàng trăm triệu năm từ kỷ Trias đến Đệ Tứ (Ảnh: Duy Post)

Tràng An có ý nghĩa lớn về khoa học là trong một cảnh quan, có mặt các dạng chuyển tiếp giữa núi đá vôi hình nón nối với nhau qua các đỉnh sắc cạnh và núi đá vôi dạng tháp cổ điển đứng rời rạc trên các đồng bằng bồi tích, mỗi dạng địa hình đại diện cho các giai đoạn khác nhau trong quá trình tiến hóa địa mạo đang diễn ra trong chu trình xâm thực karst. Một loạt ngấn xâm thực tìm thấy trên vách đá, có liên quan đến các hang động, sàn ngấn sóng, trầm tích bãi biển và vỏ nhuyễn thể biển, hé lộ bằng chứng của các đợt biển tiến trước đây. Cùng với việc dịch chuyển nâng lên của khối núi, những đặc điểm này có thể quan sát ở độ cao khoảng 50m trên mực nước biển hiện tại. Có ít cảnh quan trên thế giới và không có khu vực karst nào tương ứng có thể cho những bằng chứng dao động mực nước biển diễn ra qua một giai đoạn địa chất dài và rõ ràng như ở Tràng An.

Di sản văn hóa thế giới

Quần thể danh thắng Tràng An có giá trị nổi bật toàn cầu với tiêu chí V của một di sản văn hóa thế giới. Tràng An chứa đựng các bằng chứng cho thấy sự thích ứng của con người với các điều kiện biến đổi về địa lý và môi trường theo lịch sử trái đất.

Môi trường sống của người tiền sử

Tràng An là địa điểm nổi bật trong khu vực Đông Nam Á và có ý nghĩa trên phạm vi thế giới cho thấy cách mà người tiền sử tác động qua lại với cảnh quan tự nhiên và thích ứng với biến đổi to lớn về môi trường trải dài ít nhất 30.000 năm.

Tràng An là di sản thiên nhiên và văn hóa thế giới (Ảnh: Duy Post)

Trên 30 di tích khảo cổ học thời tiền sử, chủ yếu thuộc nền văn hóa Tràng An đã được phát hiện trong Quần thể danh thắng Tràng An. Kết quả nghiên cứu cho thấy cách người tiền sử thích nghi với biến cố lớn về môi trường, cảnh quan. ít nhất là từ khoảng 23.000 năm đến nay, một số nền văn hóa tiền sử đã tiến hóa liên tục ở khu vực này, từ thời đồ đá cũ qua thời đại Đá mới đến thời đại đồ Sắt và đồ Đồng như các nền văn hóa Tràng An, Hòa Bình, Đa Bút. Trong khoảng thời gian đó, khu vực này cũng đã trải qua một số lần dao động mực nước biển đáng kể. Trong điều kiện tự nhiên đặc biệt, hầu như chỉ có đá vôi là chất liệu đá duy nhất, người Tràng An đã biết sử dụng nó làm công cụ lao động ít nhất cho đến cách ngày nay khoảng 3.000 năm, trong quá trình đó đã nhận biết được rằng đá vôi đô-lô-mít thuộc loại chất liệu tốt nhất có thể có. Đồng thời với giai đoạn biển tiến lớn nhất cuối cùng (khoảng 7.000-4.000 năm trước) người tiền sử Tràng An đã biết tới nghệ thuật làm đồ gốm. Những chứng cứ sớm nhất được cho là tương đương với gốm Đa Bút (6.000 năm trước), nhưng thực tế đã được làm ra ở đây sớm hơn nhiều (khoảng 9.000 năm trước) và tiến hóa liên tục qua thời đại Kim khí đến tận sau này. Việc sử dụng đồ gốm từ sớm và liên tục ở Tràng An chứng tỏ rằng một trung tâm gốm sứ rất khác biệt so với nhiều trung tâm gốm sứ khác ở Việt Nam đã từng tồn tại ở đây. TS. Masanari Nishimura (Nhật Bản) qua nghiên cứu khảo cổ học tiền sử Quần thể danh thắng Tràng An đã khẳng định: Cách đây 5.000-6.000 năm trước, có một trận động đất lớn ở Tràng An và người Việt cổ ở Tràng An đã trải qua nhiều sự biến đổi của thiên nhiên để thích ứng và phát triển cho đến ngày nay, tạo nên một giá trị về một nền văn hóa Tràng An.

Lịch sử văn hóa lâu dài gắn bó chặt chẽ với quá trình tiến hóa địa chất của sơn khối núi đá vôi Tràng An vào giai đoạn cuối Pleitocene và Holocene. Tràng An là di sản văn hóa thế giới lâu dài và duy nhất về con người và ứng xử của con người đối với những thách thức, biến đổi và cơ hội qua hàng chục nghìn năm, đang mang lại các cách tiếp cận tiên phong trong việc tìm hiểu quá trình cư trú của con người và các chiến lược mới mà từ đó có thể áp dụng cho các mô hình kinh tế hiện đại, với mục đích tăng cường khả năng thích ứng trước những biến đổi môi trường sắp xảy ra trong thế giới ngày nay.

Kinh đô Hoa Lư của người Việt cổ

Đến thế kỷ X ở thung lũng mở Hoa Lư, người Tràng An đã không ngừng phát triển bản sắc văn hóa của họ trong sự hòa hợp, chặt chẽ với cảnh quan thiên nhiên. Vị anh hùng dân tộc Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp loạn 12 sứ quân đã xây dựng Kinh đô Hoa Lư ở đây bằng cách đắp thành, nối liền những ngọn núi, khép kín thung lũng đá vôi để phục hưng văn hóa, mở ra ba triều đại đầu tiên của nền phong kiến độc lập Việt Nam: nhà Đinh, nhà Tiền Lê, nhà Hậu Lý với các dấu ấn lịch sử: thống nhất giang sơn, đánh Tống – dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô Hà Nội.

Người Tràng An đã không ngừng phát triển bản sắc văn hóa của họ trong sự hòa hợp, chặt chẽ với cảnh quan thiên nhiên (Ảnh: Duy Post)

Đến thế kỷ XIII triều đại nhà Trần lại chọn vùng núi Tràng An để xây dựng hành cung Vũ Lâm với vai trò là một căn cứ quân sự để củng cố lực lượng góp phần chiến thắng quân Nguyên – Mông và là nơi các vua Trần xuất gia tu hành, mở mang phật giáo.

Khu rừng môi trường Hoa Lư ngày nay có hàng loạt các giá trị lịch sử, văn hoá và du lịch. Di tích quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư hiện nay còn rất nhiều công trình kiến trúc đình, đền, chùa, phủ như: đền Vua Đinh Tiên Hoàng, đền Vua Lê Đại Hành, đền thờ Công chúa Phất Kim, chùa Nhất Trụ, phủ Vườn Thiên, chùa Kim Ngân, chùa Duyên Ninh, phủ Chợ, động Am Tiên, đình Yên Trạch, chùa Bà Ngô, động Liên Hoa, đền Trần, phủ Khống, phủ Đột, chùa Bái Đính, động Thiên Tôn, động Hoa Lư, đền thờ Đinh Bộ Lĩnh…

Khu du lịch sinh thái Tràng An

Khu du lịch sinh thái Tràng An có trung tâm bến thuyền nằm bên đại lộ Tràng An, cách thành phố Ninh Bình 7 km. Tràng An gồm hệ thống các hang động, thung nước, rừng cây trên núi đá vôi và các di tích lịch sử gắn với kinh thành xưa của cố đô Hoa Lư. Nơi đây đã được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt quan trọng của Việt Nam.

Phim trường Kong: Đảo Đầu lâu được phục dựng tại Tràng An cho du khách thăm quan (Ảnh: Duy Post)

Ngoài ra, phim trường Kong: Đảo Đầu lâu được phục dựng tại xã Ninh Xuân với diện tích khoảng 10 hecta, gồm 36 túp lều chóp nhọn cùng sự tham gia của hơn 50 người đóng vai thổ dân, cùng các thuyền gỗ dài giống như thuyền mà thổ dân hay sử dụng. Đoàn làm phim cũng thiết kế các giá treo bằng tre như người dân vùng biển dùng để treo cá, phơi cá. Tất cả đều sử dụng vật liệu truyền thống như tre, nứa, gỗ… Một số mô hình như máy bay, súng của lính Mỹ trong phim cũng được phục dựng bên cạnh các bờ suối. Lối đi từ cổng vào phim trường được lát đá và có hàng chục người dân được hóa trang thành thổ dân đứng trước cổng và đi lại xung quanh.

Anh đến Mường Lò – Yên Bái

Ai đã từng đến Mường Lò (thị xã Nghĩa Lộ), một vùng đất phì nhiêu, trù phú của vùng Tây Bắc, nơi có cánh đồng bằng phẳng, thẳng cánh cò bay rộng thứ hai khu vực Tây Bắc, nổi tiếng với “gạo trắng, nước trong”, với đặc sản chè tuyến Shan cổ thụ, với hương thơm nồng nàn của nếp Tan Tú Lệ. Nơi đây còn là mảnh đất quần cư của người Thái đen giàu bản sắc, đậm đà phong tục, tập quán.

“Nhất Thanh nhì Lò tam Than tứ Tấc” – 4 thung lũng đẹp nhất miền Tây Bắc.
Mường Lò (thị xã Nghĩa Lộ và một số xã của huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái) chỉ đứng sau Mường Thanh (tỉnh Điện Biên) và đứng trên Mường Than (Than Uyên, Lai Châu) và Mường Tấc (Phù Yên, Sơn La).

MuongLo1

Thung lũng Mường Lò

Mường Lò, một vùng đất phì nhiêu, trù phú của vùng Tây Bắc, nơi có cánh đồng bằng phẳng, thẳng cánh cò bay rộng thứ hai khu vực Tây Bắc, nổi tiếng với “gạo trắng, nước trong”, với đặc sản chè tuyến Shan cổ thụ, với hương thơm nồng nàn của nếp Tan Tú Lệ. Nơi đây còn là mảnh đất quần cư của người Thái đen giàu bản sắc, đậm đà phong tục, bản sắc dân tộc.

Anh đến Mường Lò

Đi qua đèo Ách vi vu
Em vàng óng ả mùa thu Mường Lò
Ngàn năm mây trắng tự do
Thăm thẳm núi đong ấm no thung vàng
Đi qua cổ thụ Suối Giàng
Chè San Tuyết còn đa mang hương tình
Nậm Thia xõa tóc tiên bồng
Còn bao nước mắt chảy trong đại ngàn
Trẻ thơ mơ ước dở dang
Mẹ cha mê mải ruộng thang bậc đời
Bản Đêu em núng nính cười
Lời chào chén rượu câu mời má say
Khăn piêu áo cỏm xòe tay
Em đeo xài ẻo đến ngày eo thon
Phập phừng mắc pím quay tròn
Dùng dằng tới bậc thang còn nồng môi
Mường Lò dính nhớ vào xôi
Ủ trăng má đỏ vào tôi đổ đèo

15/9/2016
Cao La Tứ Hải


Điệu múa của các cô gái Thái đen Mường Lò (Video: Duypost.com)

Với những thửa ruộng bậc thang mượt mà, óng ả trong nắng, trải tới chân núi xa, Mường Lò xứng với câu ca: “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc” nổi tiếng từ lâu.

MuongLo2

Mỗi mùa lúa chín, những thửa ruộng bậc thang lại vàng rực một màu

Trong số bốn thung lũng lớn nổi tiếng vì phong cảnh đẹp và khí hậu trong lành ở vùng Tây Bắc, thì cánh đồng Mường Lò được xếp thứ hai sau Mường Thanh (tỉnh Điện Biên) và đứng trên Mường Than (Than Uyên, Lai Châu) và Mường Tấc (Phù Yên, Sơn La). Mường Lò hiện nay gồm thị xã Nghĩa Lộ và một số xã thuộc huyện Văn Chấn. Từ trên cao nhìn xuống, cánh đồng Mường Lò như một cái chảo lớn, xung quanh là những triền núi quanh năm mây phủ. Vào mùa xuân, sương mù càng đậm đặc hơn.

Quốc lộ 32 uốn lượn giữa miền núi non Tây Bắc “thanh sơn, bích thủy”. Núi cao, vực sâu, bạt ngàn cây rừng, lau lách. Đỉnh dẫy núi xa đổ xuống những dòng thác mây như từ trên trời đổ xuống mỗi khi vào đông khiến ta tưởng như thấy thác núi Lư trong thơ Lý Bạch đời Đường “Thác bay thẳng xuống ba nghìn thước/Tưởng dải Ngân hà tuột khỏi mây…”. Rồi như một phép màu, con đường quốc lộ bỗng lọt vào một cánh đồng bằng phẳng biêng biếc sóng lúa Mường Lò.

Mường Lò là cánh đồng lớn thứ hai ở miền núi phía Bắc, chỉ sau Mường Thanh (Điện Biên). Người Thái đen đã định cư lâu đời ở nơi đây. Theo câu truyện sử thi của người Thái, hai anh em Tạo Xuông và Tạo Ngần tìm nơi lập nghiệp. Tạo Xuông đã dừng chân dựng bản làng ở Mường Lò, xây dựng nên vùng đất tổ tiên của người Thái Đen ở khắp vùng Tây Bắc vì thấy ở đây đất đai màu mỡ, nguồn nước dồi dào. Còn Tạo Ngần lên Mường Then (Mường Thanh ngày nay) xây dựng bản làng người Thái Trắng cũng trồng lúa nước là chủ yếu.

Thị xã Nghĩa Lộ nhỏ bé miền tây Yên Bái, nằm lọt thỏm giữa lòng chảo cánh đồng Mường Lò bao la, bao bọc bởi dãy Hoàng Liên ngàn năm mây trắng. Mảnh đất rộng chưa đầy 3.000 ha này là nơi sinh sống của 17 dân tộc anh em với dân số trên 27 nghìn người, trong đó dân tộc Thái chiếm tới 44% với bao bí ẩn, hấp dẫn về văn hóa khiến người đời mê mẩn khám phá.

Con trâu là con vật quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp của người Thái đen Mường Lò. Một năm cầy cấy vất vả trong dịp tết Síp Xí đồng bào dân tộc Thái nơi đây cũng cho trâu được “ăn tết” bằng nghi thức cúng vía cho trâu “Tám khuôn quai”, cầu xin tổ tiên thần thánh che chở, bảo vệ cho trâu được khỏe mạnh để giúp đỡ gia đình trong sản xuất nông nghiệp.

Một chiều, bên mâm rượu với canh rêu suối, châu chấu rang khô và thịt trâu sấy bản Đêu, Mường Lò, lại được nghe những câu hát mời rượu:

Ly riệu đầy như tấm lòng không bao giờ vơi/Anh có muốn làm quen/Anh hãy uống cạn ly này/Một ly là để em chào/Hai ly là để làm quen/Em không biết hát/Em hát không hay/Em vẫn hát mời anh ly rượu này…

thì quả là khó lòng rời bước khỏi chốn này.

Đối với người Thái ở Mường Lò (Văn Chấn, Nghĩa Lộ), sống trên vùng đất trù phú, được thiên nhiên ưu đãi ban tặng những sản vật tự nhiên, vì vậy từ xa xưa, họ đã tích lũy, xây dựng được cho mình một nền văn hóa ẩm thực đa dạng, phong phú và vô cùng hấp dẫn.

Trong các mâm cơm cúng tế đều có món “Khẩu cắm” (cơm nhuộm màu), được nấu từ gạo trắng rồi nhuộm các loại màu: xanh, đỏ, tím, vàng (khẩu cắm khiêu, khẩu cắm lanh, khẩu cắm lăm, khẩu cắm lương…), màu của “khẩu cắm” đều được chiết xuất từ những loại cây, lá, dược thảo tự nhiên nên không hề có hại cho sức khỏe của người thưởng thức. Theo phong tục của họ, 5 màu này thể hiện cho các màu của tất cả các đồ vật trên thế gian. Vì vậy, họ muốn dâng tặng mọi thứ của trời đất mà con người có được cho tổ tiên, thần thánh. Mặt khác, nó còn có ý nghĩa giáo dục con cháu nhớ tới cội nguồn, hướng về tổ tiên…

Cũng tương tự như vậy, “mọk” (xôi tổng hợp) là món ăn quan trọng trong tết Nguyên đán, món này trước được dùng để cúng tổ tiên, sau đó mời bạn bè, anh em cùng thưởng thức. Trong số các loại “mọk” thì “pa Mọk” (xôi cá) được coi là món phổ biến và cũng thơm ngon nhất. Ngoài cá là nguyên liệu chính còn có hoa chuối, hành, gừng, tỏi, sả, ớt, hạt sẻn, các loại rau thơm và bột gạo nếp… Đặc biệt, loại cá làm món “pa mọk” ngon nhất là cá xỉnh (pa khính) và cá khuy – đây là những loại cá nhỏ ăn rêu đá, được bắt tại các con suối chảy quanh vùng Mường Lò.

Hấp dẫn và cũng đặc biệt không kém là món “nhứa xổm” (nem chua). Mỗi dân tộc có một phương pháp làm món này khác nhau, với người Thái, họ làm nem chua bằng phương pháp muối chua thịt lợn nạc cùng thính gạo rang trộn với muối, hạt sẻn hoặc hạt dổi… gói bằng lá dong rồi treo trên gác chạn trong khoảng 5 ngày. Đây là món ăn khoái khẩu của đàn ông dân tộc Thái trong các bữa nhậu vào dịp lễ, tết.

Gần giống “nhứa xổm” là món “pà” (thịt tái chua), đây là món ăn được chế biến gần giống nem chua, cùng nguyên liệu và cách thức nhưng được ăn ngay mà không phải đợi lên men. Món này đối với người lần đầu tiên tiếp xúc thì phải mạnh bạo lắm mới dám ăn vì được chế biến từ thịt sống, chỉ làm chín bằng thính trong khoảng 1 giờ đồng hồ, được ăn kèm với một số loại lá cây. Tuy vậy, theo đồng bào Thái thì món “pà” rất tốt cho đường tiêu hóa và còn có thể chữa được bệnh tiêu chảy.

“Nhứa giảng” (thịt sấy hay còn gọi là thịt hun khói) là món ăn quanh năm của đồng bào dân tộc Thái. Khi thịt đã ngấm gia vị sẽ được buộc lạt treo lên gác bếp để hong khói, dần dần thịt sẽ khô, chín do sức nóng của gia vị tẩm ướp và của khói bếp củi quanh năm đỏ lửa, sau khoảng 2-3 tháng là có thể ăn được. Khi ăn, người ta phải chế biến lại một lần nữa bằng cách nướng trên bếp than củi hoặc vùi trong tro bếp nóng, sau đó dùng chày gỗ đập dập, xé tơi nhỏ…

Ngoài những món ăn kể trên, ngày lễ, tết của người Thái còn rất  những món nữa như: “pỉnh tộp” (cá chép nướng), “lượt tả” (tiết canh), “nhứa mản” (thịt xiên nướng), “nhứa pỉnh phặc phằm” (thịt băm gói lá dong nướng), “côống sượng” (lạp sường), “cỏi nhứa mu” (gỏi thịt lợn), “rốik mu” (rồi lợn), “hắm pết” (tiết canh vịt)… Đó đều là những món ăn rất độc đáo, mỗi món có vị ngon riêng nhưng tựu chung lại đều phản ánh sự đa dạng cũng như những nét văn hóa phong phú trong phong cách ẩm thực ngày tết của người Thái vùng Mường Lò Yên Bái.

 

 

Khỉ leo dây và hành khách “leo cây”

Khỉ không đi cầu khỉ. Khỉ leo dây để qua sông.

Chuyến bay cuối cùng trong ngày mà còn trễ. Khỉ thật!

Đành post hình mấy “khỉ hoa hậu” lên đây.

Lên đỉnh miền Tây Bắc

(Lên đỉnh lần 1: Khau Phạ)

Bản Mông lúa bắc thang mây
Mâm xôi vàng ruộm tròn đầy trăng thu
Đỉnh trưa Khau Phạ sương mù
Sừng núi khua nắng ngỡ đu vào trời

(Lên đỉnh lần 2: Pha Đin)

Pha Đin lừng lẫy một thời
Một vách núi một thung trời vắt dây
Mường Quài ngút ngát ngàn cây
Cùng nhau lên đỉnh bung mây má đào

(Lên đỉnh lần 3: Ô Quy Hồ)

Tiếng chim da diết đèo cao
Tình yêu khúc khuỷu lao xao con đường
Ô Quy Hồ trắng tinh sương
Mỗi lần lên đỉnh vấn vương không rời

(Lên đỉnh lần 4: Mã Pì Lèng)

Mã Pì Lèng thắt lưng đồi
Phượt cao nguyên đá hụt hơi sao đành
Đường Hạnh Phúc đường tử sinh
Bồng lai Nho Quế mướt xanh bao đời

(Lên đỉnh lần 5: Fansipan)

Đi lên, lên nữa, nóc trời
Cái tao ưng cái mày rồi, đi lên
Fansipan đỉnh thượng tiên
Xòe ô lại nhớ nhịp khèn Sa Pa

9/2016
Cao La Tứ Hải

Đồi chè Phú Thọ

Những bản làng lấp sau cây như… resort

Những cung đường lên đỉnh như dây vắt qua đèo

Lên đỉnh Khau Phạ

Phía chân đèo Ô Quy Hồ ngắm dãy Hoàng Liên Sơn

Tiếng chim da diết trên đỉnh đèo

Những món nướng trên đỉnh đèo Ô Quy Hồ

Đồi mâm xôi ở Mù Căng Chải

Cáp treo Fansipan

Ngôi nhà Mông truyền thống

Bản Cát Cát (Mèo) của người Mèo

Hồ Sa Pa

Điệu múa khèn ở chợ tình Sa Pa (Video: Duypost.com)

%d bloggers like this: