Archive | Trái đất & Môi trường RSS for this section

Thiên thạch khổng lồ hình khẩu trang sắp bay qua Trái đất vào 29/4

Một thiên thạch rộng gần 2km sẽ bay qua Trái đất vào 29/4 với vận tốc hơn 32.000km/h, tuy nhiên nó được dự kiến sẽ không va chạm vào hành tinh của chúng ta.

Thiên thạch này được gọi là 52768 (1998 OR2). Nó được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1998. Vào ngày 29/4 tới đây, 1998 OR2 sẽ bay ngang Trái đất ở khoảng cách 6,3 triệu cây số, đi với vận tốc 32.000km/h, gấp 16 lần khoảng cách từ Trái đất tới Mặt trăng.
“Nếu tác động tới Trái đất, thiên thạch này đủ lớn để gây ra các hiệu ứng toàn cầu”, NASA từng tuyên bố khi phát hiện ra 1998 OR2.

{keywords}
Thiên thạch khổng lồ hình khẩu trang sắp bay qua Trái đất vào 29/4

1998 OR2 vốn thuộc nhóm các thiên thạch có khả năng gây nguy hiểm do đường kính của chúng lớn hơn 150m. Tuy nhiên, các nhà khoa học tin rằng, thiên thạch khổng lồ này sẽ không gây nguy hiểm cho Trái đất trong lần bay sượt qua tới đây.

Nhà nghiên cứu Anne Virkki từ Đài thiên văn Arecibo cho biết các đặc điểm địa hình tương tự như đồi và núi đá ở một đầu của tiểu hành tinh 1998 OR2 rất hấp dẫn về mặt khoa học.
“Thật sự thiên thạch lần này rất giống khẩu trang”, Anne Virkki nói.

Theo các chuyên gia, sau lần gặp nhau này, vào năm 2079, 1998 OR2 mới tiếp tục bay qua Trái đất nhưng với khoảng cách gần hơn 3,5 lần so với năm nay.

Năm 2019, Cơ quan vũ trụ châu Âu (ESA) cho biết khoảng 878 thiên thạch sẽ bay ngang và có nguy cơ va chạm vào Trái đất trong vòng 100 năm tới.

1998 OR2 là thiên thạch có kích thước lớn nhất bay sượt qua Trái đất trong 2 tháng qua, nhưng nó không phải là tiểu hành tinh lớn nhất từ trước tới nay.

Trước đó vào tháng 9/2017, thiên thạch 3122 Florence (1981 ET3) khổng lồ, rộng hơn 4km từng bay ngang qua Trái đất nhưng rất may không xảy ra va chạm. Dự kiến 1981 ET3 sẽ lại “ghé thăm” Trái đất vào tháng 9/2057.

Viet’s Post (Theo CNN và Vietnamnet: Read More)

Enzyme đột biến giúp tái chế nhanh chai nhựa PET

Các nhà khoa học đã tạo ra một loại enzyme vi khuẩn đột biến có thể làm phân hủy chai nhựa chỉ trong vài giờ để dùng cho mục đích tái chế. Đây là một loại enzyme vi khuẩn trong phân trộn (ủ từ lá cây) giúp tái chế chai nhựa với chất lượng cao.

(Ảnh: Shutterstock)

Các công nghệ tái chế hiện có thường chỉ tạo ra những loại nhựa dành cho quần áo và thảm. Carbios, công ty tạo ra bước đột phá trên cho biết họ đang nhắm đến việc tái chế với quy mô lớn trong vòng 5 năm. Trên thực tế, Carbios đã hợp tác với những tập đoàn lớn bao gồm Pepsi và L’Oréal để thúc đẩy việc phát triển. Các chuyên gia tư vấn độc lập cho rằng loại enzyme mới này là một bước tiến lớn.

Hàng tỷ tấn chất thải nhựa đã làm ô nhiễm hành tinh, từ Bắc Cực đến rãnh đại dương sâu nhất và đe dọa nghiêm trọng đến môi trường biển. Nhiều chiến dịch đã được tổ chức nhằm kêu gọi con người giảm thiểu sử dụng nhựa, nhưng công ty Carbios cho biết nhựa vẫn là loại vật liệu nhẹ, bền vững và rất hữu ích, vậy nên, việc tái chế nhựa thực sự là điều cần được tính đến.

Loại enzyme mới này đã được công bố trong nghiên cứu đăng trên tạp chí Nature vào hôm 8/4. Nghiên cứu bắt đầu bằng việc sàng lọc 100.000 vi sinh vật trong các loại phân để tìm ra những ứng cử viên sáng giá nhất, trong đó có cả loại bọ có trong phân trộn được ủ từ lá cây, được phát hiện lần đầu tiên vào năm 2012.

“Nó đã hoàn toàn bị bỏ quên, nhưng hóa ra đây lại là loài sinh vật tốt nhất,” giáo sư Alain Marty tại Đại học Toulouse (Pháp), giám đốc khoa học của Carbios cho biết.

Các nhà khoa học đã phân tích enzyme và tạo ra các đột biến để cải thiện khả năng phá hủy PET, loại nhựa thường dùng để sản xuất chai nước uống. Họ còn làm cho nó ổn định ở 720C, gần với nhiệt độ hoàn hảo để phân hủy nhanh.

Nhóm nghiên cứu đã sử dụng loại enzyme cải tiến này để phân hủy 1 tấn chai nhựa thải, kết quả là 90% khối lượng nhựa đã được phân hủy trong vòng 10 giờ. Sau đó các nhà khoa học đã sử dụng vật liệu phân hủy này để sản xuất ra các chai nhựa mới – đủ tốt để đựng thực phẩm.

Carbios đã thỏa thuận với công ty công nghệ sinh học Novozymes để sản xuất loại enzyme mới với quy mô lớn, sản xuất từ nấm. Phía Carbios cho biết chi phí sản xuất enzyme chỉ bằng 4% chi phí tạo ra nhựa mới từ dầu.

Tuy nhiên, các chai nhựa thải cũng phải được nghiền và làm nóng trước khi thêm enzyme, vì vậy nhựa PET tái chế sẽ đắt hơn nhựa mới. Tuy nhiên ông Martin Stephan, phó giám đốc điều hành của Carbios, cho biết nhựa tái chế chất lượng thấp hiện có được bán với giá cao do thiếu nguồn cung.

“Chúng tôi là công ty đầu tiên đưa công nghệ này ra thị trường,” ông Stephan cho hay. “Mục tiêu của chúng tôi là sẽ sản xuất tái chế với quy mô lớn vào năm 2024, 2025.”

Ông cho biết việc giảm thiểu sử dụng nhựa là một biện pháp giúp giải quyết vấn đề rác thải. “Nhưng tất cả chúng ta đều biết rằng nhựa mang lại rất nhiều giá trị cho xã hội, trong thực phẩm, chăm sóc y tế, giao thông vận tải. Vấn đề nằm ở rác thải nhựa.”

Biện pháp giúp giải quyết vấn đề là tăng cường việc thu gom rác thải nhựa. Bởi hiện tại có khoảng một nửa lượng nhựa đều được thải ra môi trường hoặc trong các bãi rác, ông Stephan cho hay.

Vào năm 2018, một nhóm các nhà khoa học cho biết họ đã vô tình tạo ra một loại enzyme phân hủy chai nước uống bằng nhựa. Một trong những nhóm tạo ra bước tiến này, Giáo sư John McGeehan, giám đốc Trung tâm Đổi mới Enzyme tại Đại học Portsmouth, cho biết Carbios là công ty hàng đầu trong việc chế tạo enzyme để phân hủy PET ở quy mô lớn và thành quả mới là một bước tiến lớn.

“Nó cho thấy khả năng tái chế sinh học trên quy mô lớn của PET. Đây là một sự tiến bộ rất lớn về tốc độ, hiệu quả và khả năng chịu nhiệt,” ông McGeehan cho biết. “Điều này cho thấy một bước tiến đáng kể trong việc tái chế PET theo chu trình khép kín và giúp giảm thiểu sự phụ thuộc của chúng ta vào dầu, cắt giảm khí thải các-bon và việc sử dụng năng lượng, đồng thời khuyến khích thu gom và tái chế chất thải nhựa.”

Các nhà khoa học cũng đang phát triển những biện pháp sinh học nhằm phân hủy các loại nhựa chủ yếu khác. Vào tháng 3 vừa qua, các nhà nghiên cứu người Đức cho biết một con bọ đã ăn chất polyurethane độc hại, trong khi nghiên cứu trước đó đã chỉ ra rằng ấu trùng của bướm sáp – thường được nhân giống làm mồi câu cá – có thể ăn các túi polythene.

Theo Trí Thức VN: Read More

Bài học về giãn cách xã hội trong thế giới tự nhiên của các loài động vật

Việt Nam đang thực thi giãn cách xã hội (social distancing) trong 2 tuần. Nhiều nước trên thế giới cũng đã và đang thực hiện. Giãn cách xã hội để chống lại COVID-19 đang tác động sâu sắc đến xã hội, khiến nhiều người tự hỏi liệu nó có thực sự hoạt động hiệu quả hay không. Theo các nhà sinh thái học về bệnh, ngay trong thế giới tự nhiên đã có câu trả lời. Nhiều loài động vật như khỉ, tôm hùm, côn trùng và chim có thể phát hiện và tránh các thành viên bị bệnh trong loài của chúng. Tại sao có nhiều loại động vật phát triển các hành vi tinh tế như vậy để đáp ứng với bệnh tật? Bởi vì giãn cách xã hội giúp chúng sống sót.

Về mặt tiến hóa, động vật đã thực hiện giãn cách xã hội hiệu quả trong thời kỳ dịch bệnh nhằm cải thiện cơ hội sống khỏe mạnh và tiếp tục sinh ra nhiều con cái, điều này cũng sẽ tạo giãn cách xã hội khi đối mặt với bệnh tật.

Các nhà khoa học đã nghiên cứu các cách thức đa dạng trong đó động vật sử dụng các hành vi để tránh nhiễm bệnh và tại sao các hành vi này đóng vai trò quan trọng đối với việc lây bệnh. Trong khi động vật đã phát triển một loạt các hành vi hạn chế nhiễm bệnh, thì sự phổ biến của giãn cách xã hội ở động vật sống theo bầy đàn cho chúng ta biết rằng chiến lược này là phổ biến ở những động vật phải đối mặt với nguy cơ cao mắc bệnh truyền nhiễm.

Chúng ta có thể học được gì về sự giãn cách xã hội từ các loài động vật khác, hành động của chúng diễn ra như thế nào, và những gì không giống như cái con người đang làm bây giờ?

Nuôi dưỡng con bị bệnh, và bảo vệ con chúa

Những loài côn trùng có đời sống xã hội là một trong những kẻ thực hành thành thạo nhất về giãn cách xã hội trong tự nhiên. Nhiều loại kiến sống trong các tổ chật hẹp với hàng trăm hoặc thậm chí hàng ngàn con. Giống như các trung tâm chăm sóc y tế, ký túc xá đại học và viện dưỡng lão, những nơi sống này có thể tạo điều kiện tối ưu để truyền bệnh truyền nhiễm.

Để đối phó với nguy cơ này, kiến đã phát triển khả năng giãn cách xã hội. Khi một căn bệnh truyền nhiễm quét qua xã hội của chúng, cả những con kiến ốm yếu và khỏe mạnh sẽ nhanh chóng thay đổi hành vi của chúng theo những cách làm chậm quá trình truyền bệnh. Các con kiến ốm tự cách ly và các con kiến khỏe mạnh giảm tương tác với các con kiến khác khi có dịch bệnh ở trong tổ của chúng.

Những con kiến khỏe mạnh thậm chí còn được “xếp gần” với các thành viên dễ bị tổn thương nhất trong tổ là kiến chúa và “kiến y tá” bằng cách giữ chúng cách ly với những con kiến thợ có khả năng lây bệnh từ bên ngoài. Nhìn chung, các biện pháp này có hiệu quả cao trong việc hạn chế lây lan bệnh và giữ cho các thành viên trong tổ sống sót.

Nhiều loài động vật khác cũng biết chọn chính xác những cá thể nào cần giữ giãn cách xã hội, và ngược lại, khi nào tự đặt mình vào rủi ro mắc bệnh. Ví dụ, loài khỉ mặt chó (mandrill) tiếp tục chăm sóc cho các thành viên gia đình bị bệnh ngay cả khi chúng chủ động tránh các thành viên ngoài gia đình bị bệnh. Theo quan điểm tiến hóa, việc chăm sóc một thành viên trong gia đình bị bệnh có thể cho phép một con vật di truyền gen cho con đẻ trong gia đình.

Hơn nữa, một số động vật duy trì các tương tác xã hội thiết yếu khi đối mặt với bệnh tật trong khi đưa ra những điều ít quan trọng hơn. Ví dụ, dơi ma cà rồng tiếp tục cung cấp thức ăn cho các con cùng đàn bị bệnh, nhưng tránh chải chuốt chúng. Điều này giảm thiểu rủi ro truyền nhiễm trong khi vẫn duy trì các hình thức hỗ trợ xã hội là điều cần thiết nhất để giữ cho các thành viên gia đình bị bệnh còn sống, chẳng hạn như chia sẻ thức ăn.

Những hình thức sắc thái giãn cách xã hội này giảm thiểu tác động của bệnh tật trong khi vẫn duy trì những lợi ích của đời sống xã hội. Không có gì ngạc nhiên khi quá trình tiến hóa đã chọn lọc hình thức này ở nhiều loài động vật.

Lòng vị tha làm chúng ta là con người

Hành vi của con người trong thời kỳ dịch bệnh cũng mang dấu hiệu của sự tiến hóa. Điều này chỉ ra rằng tổ tiên vượn người của chúng ta phải đối mặt với nhiều áp lực tương tự từ các bệnh truyền nhiễm mà chúng ta đang phải đối mặt ngày nay.

Giống như kiến có đời sống xã hội, chúng ta đang bảo vệ những thành viên dễ bị tổn thương nhất trong xã hội khỏi bị nhiễm COVID-19 bằng cách đảm bảo rằng những người già và những người mắc bệnh trước đó tránh xa những người có khả năng truyền nhiễm. Giống như khỉ và dơi, chúng ta cũng thực hành giãn cách xã hội, giảm bớt các liên hệ xã hội không thiết yếu trong khi vẫn cung cấp chăm sóc thiết yếu cho các thành viên gia đình bị bệnh.

Tuy nhiên, cũng có những khác biệt quan trọng. Ví dụ, ngoài việc chăm sóc các thành viên gia đình bị bệnh, con người đôi khi còn làm tăng rủi ro của chính họ bằng cách chăm sóc những người ngoài gia đình, chẳng hạn như bạn bè và hàng xóm. Xa hơn nữa, các nhân viên y tế còn tích cực tìm kiếm và giúp đỡ chính những người mà đúng ra theo quy luật trong tự nhiên họ cần phải tránh.

Lòng vị tha là hành vi duy nhất phân biệt phản ứng với dịch bệnh giữa con người và các động vật khác. Các động vật khác phải dựa vào tín hiệu tinh tế để phát hiện bệnh giữa các thành viên trong đàn, nhưng chúng ta có các công nghệ tiên tiến giúp phát hiện mầm bệnh nhanh chóng và sau đó cách ly và điều trị cho những người bị bệnh. Và con người có thể truyền đạt các mối đe dọa sức khỏe trên toàn cầu ngay lập tức, điều này cho phép chúng ta chủ động tạo ra các hành động làm giảm nhẹ bệnh tật. Đó là một lợi thế tiến hóa rất lớn.

Cuối cùng, nhờ các nền tảng số, con người có thể duy trì các kết nối xã hội mà không cần tiếp xúc trực tiếp. Điều này có nghĩa là không giống như các động vật khác, chúng ta có thể luyện tập thể chất thay vì giãn cách xã hội, điều này cho phép chúng ta duy trì một số lợi ích quan trọng của việc sống theo nhóm trong khi giảm thiểu rủi ro bệnh tật.

Đáng để thực hiện giãn cách xã hội

Bằng chứng từ thiên nhiên rất rõ ràng: Giãn cách xã hội là một công cụ hiệu quả để giảm lây lan bệnh. Nó cũng là một công cụ có thể được thực hiện nhanh chóng và phổ biến hơn hầu hết các công cụ khác. Không giống như tiêm chủng và dùng thuốc, thay đổi hành vi không yêu cầu phải phát triển thêm hoặc thử nghiệm.

Tuy nhiên, giãn cách xã hội cũng có thể phải chịu tổn thất lớn và đôi khi không bền vững. Một số động vật có tính xã hội cao, như cầy mangut vằn, không cách ly các thành viên trong đàn ngay cả khi chúng bị bệnh rõ ràng. Trong trường hợp này có thể đơn giản hiểu rằng những thiệt hại do giãn cách xã hội tạo ra với các thành viên trong gia đình và bầy đàn là quá lớn với chúng. Như chúng ta hiện đang trải qua, giãn cách xã hội cũng gây ra nhiều tổn thất nghiêm trọng trong xã hội loài người, và những thiệt hại này thường do những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội phải gánh chịu.

Mặc dù giãn cách xã hội có thể gây ra thiệt hại, tại sao nhiều động vật vẫn làm điều đó? Đó là vì những hành động bảo vệ chúng khỏi bệnh tật cuối cùng cho phép chúng tận hưởng cuộc sống xã hội – một lối sống mang lại vô số lợi ích, nhưng cũng mang đến một vài rủi ro. Bằng cách thực hiện giãn cách xã hội khi cần thiết, con người và các động vật khác có thể tiếp tục gặt hái những lợi ích đa dạng của đời sống xã hội trong thời gian dài, đồng thời giảm thiểu thiệt hại do các bệnh có thể gây tử vong khi chúng phát sinh.

Giãn cách xã hội có thể làm ảnh hưởng sâu sắc cho xã hội của chúng ta, nhưng nó cũng có thể ngăn chặn sự bùng phát dịch bệnh. Chỉ cần hỏi đàn kiến thì sẽ biết thôi.

Viet’s Post (Theo The Conservation)

Vừa tìm thấy vi sinh vật ăn nhựa

Theo công bố trên Tạp chí Frontiers in Microbiology, các nhà khoa học đã xác định được một chủng vi khuẩn có tên là Pseudomonas sp. TDA1 có thể phá vỡ một số thành phần của nhựa polyurethane (PU).

Nhựa tham gia vào thị trường tiêu dùng sau Thế chiến II và kể từ đó, nó được sử dụng theo vô số cách, nhiều trong số đó liên quan đến việc xử lý loại nhựa dùng một lần. Điều này đã tăng thêm tới hàng tấn ô nhiễm nhựa xả rác trên toàn cầu. Người ta ước tính rằng vào cuối năm 2015, 8.300 triệu tấn nhựa đã được tạo ra.

Nhựa polyurethane (PU) được sử dụng trong tủ lạnh, giày dép, đồ nội thất và các sản phẩm khác tận dụng các đặc tính cách điện linh hoạt của nó. Nhựa cũng rất khỏ để bị loại bỏ. Hơn nữa, loại nhựa này được làm từ các polymer sẽ không tan chảy khi chúng được nung nóng, có nghĩa là nó kết thúc tại các bãi chôn lấp nơi hóa chất độc hại rò rỉ ra. Nghiên cứu mới này có thể có câu trả lời cho vấn đề này.

Nhựa đã được thu hồi từ một vị trí có rất nhiều rác nhựa. Chủng vi khuẩn Pseudomonas sp. TDA1 vừa được phát hiện có thể “ăn nhựa” là thành viên của một nhóm vi khuẩn có thể chống chịu tốt với các căng thẳng (stress) bao gồm tiếp xúc với các hợp chất hữu cơ độc hại. Đặc điểm đó cũng được đặt tên là khả năng chống chịu dung môi và là một dạng của vi sinh vật cực trị.

Vi khuẩn có thể sử dụng các hợp chất này như một nguồn carbon, nitơ và năng lượng duy nhất. Phát hiện này thể hiện một bước quan trọng trong việc có thể tái sử dụng các sản phẩm nhựa PU khó tái chế.

Bằng cách phân tích các gen trong bộ gen của vi khuẩn, các nhà nghiên cứu đã xác định các cơ chế được sử dụng bởi vi khuẩn để phân hủy các hóa chất và yếu tố nào giúp chuyển đổi chúng thành năng lượng.

Viet’s Post (Theo Phys.org, Frontiers in Microbiology)

Tài liệu gốc: https://doi.org/10.3389/fmicb.2020.00404

%d bloggers like this: