Archive | Sinh học & Tự nhiên RSS for this section

Hà Lan công bố ca nhiễm Covid-19 lây từ chồn

Bộ trưởng Nông nghiệp Hà Lan vừa thông báo, một người làm tại trang trại nuôi chồn đã bị nhiễm virus corona.

Vào tháng 4, những người nuôi chồn ở Hà Lan nhận thấy có một số con chồn khó thở ở hai trang trại thuộc vùng Noord-Brabant, gần biên giới với Bỉ. Tới cuối tháng, 2,4% số lượng chồn chết.

Bởi vậy, các nhà chức trách bắt đầu tiến hành một cuộc điều tra trên quy mô rộng. Theo đó, nhiều con chồn có kết quả dương tính với virus corona.

{keywords}

Trang trại nuôi chồn ở Beek en Donk (Hà Lan) phải tạm thời đóng cửa. Ảnh: EPA

Ngày 20/5, Bộ trưởng Nông nghiệp Hà Lan, Carola Schouten, thông báo, một nhân công làm ở trang trại bị lây nhiễm virus corona từ chồn. Tuy nhiên, bà Schouten không tiết lộ chi tiết về tình trạng sức khỏe hiện tại của bệnh nhân.

Lông chồn được bán ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ. Do áp lực của các nhà hoạt động vì quyền của động vật, Chính phủ Hà Lan đã cấm mở các trang trại chồn mới từ năm 2013 và những khu đang tồn tại sẽ phải đóng cửa vào năm 2024.

Hiện tại, ở Hà Lan có 130 trang trại nuôi chồn. Các lệnh giới hạn đã được áp dụng ở các khu bị lây nhiễm, tất cả vật nuôi và phân không được đưa ra khỏi khu vực. Nhân công làm việc tại đây phải mặc đồ bảo hộ.

Những con chồn là trường hợp thú nuôi đầu tiên ở Hà Lan nhiễm Covid-19. Trong khi đó, ở Hong Kong, hai con chó có kết quả dương tính với virus corona, một con đã chết.

Ở Bỉ, một người phụ nữ đã lây bệnh Covid-19 cho con mèo của mình. Ở vườn thú Bronx (New York, Mỹ) có 3 con sư tử, 5 con hổ dương tính nCoV.

Theo Reuters, Daily Mail và Vietnamnet: Read More

Virus HPV nguy hiểm gây ung thư bộ phận sinh dục cả nữ và nam

Khoảng 50% dân số thế giới nhiễm loại virus này tại một thời điểm trong đời nhưng phần lớn mọi người không biết mình mắc bệnh.

Loại virus lây dễ, lẩn tránh giỏi

Virus HPV (Human papillomavirus) là một nhóm lớn, đến nay các nhà khoa học đã tìm ra 210 chủng, trong đó có khoảng 40 chủng gây mụn cóc và ung thư vùng sinh dục cả nam và nữ.

TS Nguyễn Đăng Mạnh, Viện trưởng Viện Lâm sàng các bệnh truyền nhiễm, BV Trung ương quân đội 108 cho biết, virus HPV rất phổ biến ở cả nam và nữ. Khoảng 50% dân số thế giới nhiễm loại virus này tại một thời điểm trong đời nhưng đa phần không biểu hiện thành triệu chứng nên chính người bị nhiễm cũng không biết mình mang virus trong cơ thể.

{keywords}
Virus HPV rất dễ lây lan

Virus HPV lây nhiễm qua đường tình dục hay truyền qua nhau do quan hệ tình dục bằng miệng. Cũng có những trường hợp lây nhiễm HPV qua tiếp xúc gián tiếp như dùng chung dụng cụ sinh hoạt như cắt móc tay hay chung dụng cụ y tế chưa được tiệt trùng, vụ nhiều trẻ ở Hưng Yên cùng mắc sùi mào gà là một ví dụ nhưng chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ.

Theo TS Mạnh, thông thường khi virus xâm nhập vào, cơ thể sẽ sinh ra miễn dịch để chống đỡ nhưng chỉ trường hợp có miễn dịch đủ khoẻ mới có thể tiêu diệt hoàn toàn virus.

Các trường hợp còn lại, virus vẫn có thể lẩn tránh được trong cơ thể, khi gặp điều kiện thuận lợi là bùng trở lại, qua thời gian gây tổn thương tế bào hay đột biến tạo thành các khối u.

Một người có thể ủ virus HPV trong thời gian dài, đến khi có các triệu chứng của mụn cóc sinh dục mất vài tuần, vài tháng hay nhiều năm, với ung thư còn lâu hơn nữa.

Riêng với mụn cóc sinh dục, có thể có một hay nhiều nốt với nhiều kích thước và hình dạng khác nhau, phổ biến nhất là sùi mào gà do virus HPV6 gây ra và herpes sinh dục.

Để chữa trị mụn cóc sinh dục, bác sĩ có thể phẫu thuật cắt bỏ nốt sùi, triệt đốt bằng điện, lazer, bôi thuốc…

Chỉ tính riêng sùi mào gà, mỗi năm BV Da liễu Trung ương khám và điều trị cho khoảng 7.000 – 8.000 trường hợp. Sau mỗi năm, số ca mắc mới tăng thêm khoảng 10%. Độ tuổi mắc nhiều nhất từ 15-49.

{keywords}
Hình ảnh mụn cóc sinh dục do HPV

PGS.TS Lê Hữu Doanh, Phó giám đốc BV Da liễu Trung ương cho biết, việc chữa trị sùi mào gà cần nhiều lần và không thể diệt tận gốc virus HPV. Khi mắc sùi mào gà, đồng nghĩa virus ở trong cơ thể suốt đời, khi hệ miễn dịch suy yếu là phát triển trở lại.
Gây ung thư ở cả 2 giới

HPV có thể gây ung thư cổ tử cung và một số bệnh ung thư khác bao gồm ung thư âm hộ, âm đạo, dương vật và hậu môn. HPV còn có thể gây ung thư hầu họng nhưng ít phổ biến hơn.

Ung thư có thể xuất hiện sau khi bệnh nhân bị nhiễm HPV nhiều năm đến vài chục năm.

Với ung thư cổ tử cung ở nữ, chiếm 99 % trường hợp do virus HPV. Có 14 chủng HPV có nguy cơ cao gây ra loại ung thư này trong đó 2 type nguy cơ cao nhất là 16 và 18 (chiếm 70%), kế đó là các type 31, 33 và 45.

GS Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế, nguyên Giám đốc bệnh viện K cho biết, ung thư cổ tử cung tại Việt Nam đang xếp vị trí thứ 10 với gần 4.200 ca mắc mới, tuy nhiên tỉ lệ tử vong lên tới trên 50% với trên 2.400 ca.

So với nhiều loại ung thư khác, tiên lượng điều trị ung thư cổ tử cung khá tốt. Ở giai đoạn sớm, tỉ lệ điều trị thành công lên tới 93%, tuy nhiên ở giai đoạn trễ, tỉ lệ này chỉ còn dưới 15%.

Với nam giới, virus HPV16 và HPV18 có khả năng gây ra khoảng 50% trường hợp ung thư dương vật.

Khi bị ung thư dương vật, biện pháp điều trị chính là phẫu thuật và xạ trị. Càng phát hiện sớm, việc cắt bỏ càng ít, tỉ lệ điều trị khỏi càng cao. Ở những giai đoạn sau, bác sĩ sẽ phải cắt nới rộng phần có khối u, cắt một phần dương vật hoặc hoàn toàn kết hợp nạo vét hạch.

HPV là một loại virus nguy hiểm nhưng các xét nghiệm thông thường không thể phát hiện được loại virus này.

Các xét nghiệm phát hiện HPV hiện chỉ áp dụng với phụ nữ từ 21 tuổi trở lên trong sàng lọc ung thư cổ tử cung.

Trong xét nghiệm Pap, bác sĩ sẽ lấy tế bào cổ tử cung soi dưới kính hiển vi. Nếu nhiễm HPV sẽ thấy sự hiện diện của các tế bào rỗng.

Xét nghiệm HPV thường áp dụng cho phụ nữ từ 30 tuổi trở lên, có thể kết hợp cùng với xét nghiệm Pap. Xét nghiệm này giúp phát hiện các virus gây nhiễm trùng hoặc có thể dẫn tới ung thư.

Hiện nay chưa có thuốc đặc hiệu điều trị HPV, do đó cách đơn giản nhất là tiêm vắc xin ngừa HPV cho cả bé trai và gái độ (bé gái từ 9 tuổi, bé trai từ 12 tuổi) và kéo dài đến 21 tuổi với nam, 26 tuổi với nữ, kể cả đã có quan hệ tình dục. Việc tiêm vắc xin ngừa HPV có thể ngừa được những chủng HPV nguy hiểm như 6, 11, 16 và 18.

Để phát hiện sớm ung thư cổ tử cung, phụ nữ cần định kỳ khám phụ khoa, sàng lọc ung thư cổ tử cung.

Trong sinh hoạt tình dục, cần tuân thủ nguyên tắc một vợ một chồng để hạn chế lây nhiễm HPV. Sử dụng bao cao su chỉ giúp giảm nguy cơ lây nhiễm, không giúp bạn miễn nhiễm hoàn toàn với virus HPV do bao cao su không che phủ được toàn bộ bộ phận sinh dục.

Theo Vietnamnet: Read More

Giáo sư Nobel bác bỏ thông tin liên quan đến tuyên bố ‘virus corona nhân tạo’

Giáo sư Tasuku Honjo, người được trao giải thưởng Nobel Y học và Sinh lý học năm 2018, đã bác bỏ thông tin liên quan đến bài đăng trên phương tiện truyền thông xã hội tuyên bố về việc virus corona là “nhân tạo”, “phát minh” trong phòng thí nghiệm.

“Trước những mất mát về kinh tế và sự đau khổ diễn ra trên toàn cầu do đại dịch Covid-19 gây ra, tôi rất buồn khi thấy tên mình và Đại học Kyoto bị sử dụng để truyền bá những thông tin sai lệch”, GS. Honjo nói trong một tuyên bố ngày 28/4.

{keywords}
Giáo sư Nobel bác bỏ thông tin liên quan đến tuyên bố ‘virus corona nhân tạo’

Một bài đăng giả mạo có đề cập đến thông tin GS. Honjo đã có 40 năm nghiên cứu về động vật và virus học. Ông cũng đã làm việc 4 năm trong phòng thí nghiệm Vũ Hán ở Trung Quốc. Bài đăng cũng trích lời khẳng định của GS. Honjo về thông tin: Virus corona không phải tự nhiên. Nó cũng không đến từ dơi. Đó là do Trung Quốc sản xuất”.

Tuy nhiên, GS. Honjo khẳng định ông không đưa ra bất kỳ tuyên bố nào như vậy. Những thông tin trong bài đăng là bịa đặt.
“Ở giai đoạn này, khi mọi nỗ lực của chúng ta đều dồn vào việc điều trị bệnh, ngăn chặn sự lây lan của virus và lên kế hoạch cho một khởi đầu mới, việc phát đi những tuyên bố vô căn cứ liên quan đến nguồn gốc của dịch bệnh sẽ gây thêm hoang mang một cách nguy hiểm”, GS. Honjo nói.

Trước đó, GS. Honjo có trả lời trên một tờ báo trụ sở tại Nhật Bản, trong đó ông nói rằng căn bệnh này bắt đầu từ Trung Quốc, nhưng nước này cũng sẽ là nơi đầu tiên khỏi bệnh. Ông không đề cập tới bất cứ điều gì liên quan đến virus corona là một loại virus nhân tạo.

Ông Tasuku Honjo là một vị giáo sư nổi tiếng tại Viện nghiên cứu cao cấp của Đại học Kyoto, Nhật Bản. Ông đã được trao giải thưởng Nobel về Y học và Sinh lý học năm 2018 vì phát hiện ra PD- 1 và ý nghĩa của nó đối với liệu pháp miễn dịch ung thư.
“Đây là thời gian cho tất cả chúng ta, đặc biệt là những người luôn cống hiến cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học, để cùng nhau chiến đấu với “kẻ thù” chung này. Chúng ta không thể trì hoãn bất cứ giây phút nào trong nỗ lực này để cứu lấy mạng sống của đồng loại”, ông nói.

Viet’s Post (Theo Asian Scientist và Vietnamnet: Read More)

Việt Nam công bố kết quả nuôi cấy virus các ca tái dương tính Covid-19

Kết quả nuôi cấy mẫu virus của các bệnh nhân tái dương tính với Covid-19 cho thấy, virus không phát triển.

Trao đổi với VietNamNet, PGS.TS Lê Thị Quỳnh Mai, Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cho biết, sau khi ghi nhận 9 bệnh nhân Covid-19 tái dương tính trở lại, Viện đã nhận được 5 mẫu bệnh phẩm gửi đến để nuôi cấy lại virus SARS-CoV-2.

Trong số này có 3 mẫu bệnh phẩm gửi từ BV Bệnh nhiệt đới Trung ương của các bệnh nhân 74, 137, 188; 2 mẫu từ Quảng Ninh chuyển lên của bệnh nhân 52 và 149.

“Chúng tôi mới thực hiện nuôi cấy được 3 mẫu nhưng sau 1 tuần nhận thấy virus trong các mẫu này không phát triển”, PGS Mai thông tin.

{keywords}
Chuyên gia của Viện vệ sinh dịch tễ xem hình ảnh nuôi cấy virus SARS-CoV-2

PGS Mai giải thích, việc virus không phát triển có 2 khả năng.

Khả năng thứ nhất, virus rất yếu, không có khả năng nhân lên, không đủ nồng độ lây nhiễm cho tế bào hay khuyếch đại lên tế bào.

Khi được hỏi liệu sau một thời gian, virus có khả năng nhân lên tiếp và lây cho người khác không, PGS Mai khẳng định rất khó xảy ra.

“Tế bào của vật chủ là ‘món ăn’ virus thích nhất rồi. Chúng ta có thể tưởng tượng, virus trong cơ thể bệnh nhân tái dương tính như người già yếu, mình mời thịt gà họ cũng không ăn được, không sống được nên không có khả năng lây cho người khác”, PGS Mai nói.

PGS giải thích thêm, virus SARS-CoV-2 muốn lây được sang cho người khác cần có 3 yếu tố: Thứ nhất, virus phải khoẻ; thứ hai, phải nhân lên và có nồng độ nhất định; thứ ba, lây cho người yếu, vì nếu người khoẻ, khi virus vào cơ thể sẽ bị đánh bật và bị tiêu diệt luôn.

Khả năng thứ hai, cũng có thể là xác virus, dù rất khó nhưng không thể loại trừ.

Theo PGS Mai, đây chỉ là kết quả nuôi cấy lần đầu, Viện sẽ tiếp tục nuôi cấy thêm 2 lần nữa để có khẳng định chính xác.

Tại Việt Nam, trường hợp đầu tiên dương tính sau khi được công bố khỏi bệnh là bệnh nhân 22, quốc tịch Anh, 60 tuổi, điều trị tại BV đa khoa Đà Nẵng.

Kế đó là các bệnh nhân 188, 137, 36, 52, 149, 74, 207 và 224. Trong đó duy nhất trường hợp 188 có triệu chứng ho khan từng cơn, còn lại được phát hiện dương tính trở lại trong quá trình lấy mẫu xét nghiệm để theo dõi.

Đến sáng 28/4, 3 bệnh nhân 36, 52 và 149 đã có kết quả xét nghiệm âm tính trở lại. Số còn lại đang tiếp tục được cách ly, theo dõi.

Bộ Y tế cho biết, việc các bệnh nhân Covid-19 sau khỏi bệnh dương tính trở lại không phải là cá biệt tại Việt Nam. Ngay tại Hàn Quốc cũng gặp phải tình trạng tương tự, hiện có khoảng 160 bệnh nhân dương tính lại sau trung bình 13,5 ngày ra viện.

Đáng lưu ý, đến nay chưa ghi nhận trường hợp nào lây nhiễm Covid-19 từ những bệnh nhân tái dương tính. Tổ chức Y tế Thế giới đang điều tra về các trường hợp này.

Viet’s Post (Theo Vietnamnet: Read More)

Tại sao người khỏi Covid-19 vẫn có thể nhiễm lại?

WHO cảnh báo, không ít bệnh nhân mắc Covid-19 đã khỏi bệnh nhưng cơ thể không sản sinh kháng thể.

Thông thường, khi bị nhiễm một loại virus, cơ thể sẽ sinh ra kháng thể để tạo miễn dịch giúp người bệnh khó mắc lại bệnh đó. Nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy, nguyên lý này không còn đúng với virus SARS-CoV-2 gây bệnh Covid-19.

Hiện rất nhiều quốc gia sử dụng các bộ kit xét nghiệm huyết thanh để xác định các bệnh nhân mắc Covid-19 có sản sinh kháng thể với virus SARS-CoV-2 sau khi nhiễm bệnh hay không.

Tuy nhiên TS Maria van Kerkhove, chuyên gia bệnh truyền nhiễm của WHO khẳng định: “Đến thời điểm hiện tại, chúng tôi chưa tìm thấy bất cứ bằng chứng nào cho thấy việc sử dụng các xét nghiệm huyết thanh có thể khẳng định một cá nhân có miễn dịch sẽ không tái nhiễm Covid-19”.

{keywords}

Theo nghiên cứu tại Thượng Hải, Trung Quốc, một số bệnh nhân mắc Covid-19 sau khi hồi phục vẫn không thể đo được kháng thể, trong khi một số khác lại có nồng độ kháng thể rất cao.

“Nếu một người có nồng độ kháng thể quá thấp, họ vẫn có thể nhiễm lại virus SARS-CoV-2” TS Maria van Kerkhove lưu ý.

Ngay tại Hàn Quốc, theo báo cáo, hiện đã có hơn 140 trường hợp dương tính trở lại sau khi xuất viện.

WHO cho biết, cơ quan này đang khẩn trương thu thập thêm nhiều bằng chứng để phục vụ phân tích.

TS Mike Ryan, người đứng đầu bộ phận ứng phó khẩn cấp của WHO cũng cho biết, hiện chưa rõ những trường hợp dương tính trở lại do virus trong cơ thể tái kích hoạt hay do bệnh nhân nhiễm virus mới.

Ngoài ra, đến nay WHO chưa xác định được sau khi mắc Covid-19, những trường hợp có sinh kháng thể thì kháng thể này tồn tại được bao lâu.

Mỹ và một số nước châu Âu đang thực hiện xét nghiệm rộng rãi với những trường hợp đã nhiễm Covid-19 để kiểm tra bệnh nhân có đạt được miễn dịch với virus SARS-CoV-2. Việc này có ý nghĩa quan trọng trước khi các quốc gia này ra quyết định dỡ bỏ các biện pháp giãn cách xã hội.

Trong khi đó WHO tiếp tục cảnh báo, Hàn Quốc và Nhật Bản đã phát hiện những trường hợp dương tính trở lại sau khi xuất viện, cho thấy cơ thể có thể đã không sinh ra lượng kháng thể đủ lớn để tạo ra miễn dịch.

Do vậy nguy cơ bệnh nhân tái nhiễm với SARS-CoV-2 vẫn là rất cao nếu các quốc gia nới lỏng các biện pháp giãn cách xã hội quá nhanh.

“Dịch Covid-19 đã tăng rất nhanh nhưng giảm tốc chậm hơn rất nhiều. Vì vậy các biện pháp kiểm soát cần được dỡ bỏ từ từ”, Tổng giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus nói thêm. Ông cũng thông báo, tỉ lệ tử vong do Covid-19 đã cao gấp 10 lần so với dịch cúm mùa H1N1 tấn công thế giới năm 2009.

Viet’s Post (Theo Nikkei Asian, Sky News và Vietnamnet: Read More)

Anh thử nghiệm vắc xin phòng Covid-19 trên 500 người sau khi thành công trên tinh tinh

Trong tuần tới, Đại học Oxford (Anh) sẽ bắt đầu thử nghiệm vắc xin trên người với hy vọng có thể phổ biến rộng rãi vào mùa thu.

Đại học Oxford (Anh) là một trong hàng trăm tổ chức trên thế giới đang chạy đua để mau chóng tìm được vắc xin phòng Covid-19. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hơn 70 loại đang được phát triển.

Mới đây, trường đại học danh tiếng của Anh đã làm dấy lên hy vọng khi đặt niềm tin sẽ sớm có liều ngăn ngừa vào tháng 9. Họ cho rằng kết quả nghiên cứu của mình có tới 80% thành công.

Các thử nghiệm áp dụng trên nhiều loại động vật khác nhau, trong đó có tinh tinh, đã cho kết quả khả quan.

{keywords}

Hàng trăm tổ chức đang nghiên cứu tìm vắc xin ngừa Covid-19. Ảnh: Buzz

Vào tuần tới, Đại học Oxford sẽ tiến hành thử nghiệm giai đoạn một trên người. Hiện đã có 510 người, từ 18 tới 55 tuổi, được xét duyệt tham gia.

“Chúng tôi thực hiện một quy trình khá cẩn trọng nhưng nhanh gọn để đánh giá hiệu quả vắc xin mà chúng tôi đang phát triển”, Giáo sư Adrian Hill cho hay.

Đại học Oxford cũng cố gắng để quyên tiền giúp thúc đẩy việc sản xuất vắc xin. Với quy mô của mình, đơn vị này sẽ chỉ sản xuất được số liều giới hạn.

“Bạn cần một công nghệ cho phép sản xuất không chỉ hàng triệu mà phải là hàng tỷ liều trong một năm”, Giáo sư Hill nói.

Các loại thuốc và vắc xin sẽ thử nghiệm trong ba giai đoạn trước khi được cấp phép sử dụng trên con người. Giai đoạn đầu kiểm tra độ an toàn, giai đoạn hai quyết định liều lượng. Giai đoạn ba liên quan tới hàng trăm, đôi khi hàng nghìn người, ở nhiều khu vực khác nhau trong một thời gian dài.

Ngoài Đại học Oxford, ba nhóm nghiên cứu khác (một nhóm ở Trung Quốc và 2 nhóm ở Mỹ) cũng bắt đầu thử nghiệm trên người.

Thông thường, để một loại vắc xin ra thị trường cần mất tới 10-15 năm. Tuy nhiên, trong tình trạng khẩn cấp này, ngành công nghiệp dược phẩm hy vọng có thể rút ngắn thời gian. Họ đặt niềm tin vắc xin có thể lưu hành vào năm tới.

Viet’s Post (Theo Daily Mail và Vietnamnet: Read More)

Nghiên cứu xác nhận mất khứu giác (mất mùi) là một triệu chứng phổ biến của COVID-19

Một nghiên cứu mới ủng hộ quan điểm cho rằng mất mùi hoặc vị (mất khứu giác và vị giác) có thể là dấu hiệu cảnh báo sớm của COVID-19.

Mất khứu giác đột ngột có thể là triệu chứng của “Người mang mầm bệnh” COVID-19 

Các giai thoại về mất khứu và vị giác liên quan đến COVID-19 đã được báo cáo trên toàn thế giới, nhưng không có nghiên cứu chính thức, và các nhà khoa học cũng không thể xác định mức độ phổ biến của triệu chứng trong số những người mắc bệnh. Giờ đây, một nghiên cứu mới được công bố trực tuyến ngày 12 tháng 4 trên tạp chí International Forum of Allergy & Rhinology đã phát hiện ra rằng mất mùi và vị giác dường như là triệu chứng ban đầu phổ biến ở những bệnh nhân bị nhiễm virus nhẹ.

Những người bị mất mùi thường vẫn có thể cảm nhận được các vị khác nhau, như mặn hoặc ngọt, nhưng không thể xác định được các hương vị cụ thể, theo trang web tham khảo y tế Merck Manual. Do đó, những người bị mất mùi thường được báo cáo mất vị giác.

“Dựa trên nghiên cứu của chúng tôi, nếu bạn bị mất mùi và vị giác, bạn có nguy cơ bị nhiễm COVID-19 cao gấp 10 lần so với các nguyên nhân nhiễm trùng khác”, Tiến sĩ Carol Yan, bác sĩ tai mũi họng và bác sĩ phẫu thuật đầu và cổ tại Đại học California, San Diego Health, cho biết trong một tuyên bố.

Mặc dù sốt vẫn là triệu chứng đầu tiên phổ biến nhất của COVID-19, “nghiên cứu này hỗ trợ nhu cầu nhận biết mùi và mất vị giác là dấu hiệu ban đầu của COVID-19”, Yan nói. Cùng với sự mệt mỏi, mất mùi và vị giác dường như là triệu chứng đầu tiên phổ biến ở một nhóm bệnh nhân khá lớn, cô nói thêm.

Yan và các đồng nghiệp đã sàng lọc dữ liệu từ 1.480 bệnh nhân có triệu chứng giống cúm đã trải qua xét nghiệm COVID-19 tại Đại học California, San Diego Health vào tháng 3. Trong số 102 bệnh nhân có kết quả dương tính với virus, 59 người đã tham gia vào nghiên cứu mất mùi. Thêm 203 người thử nghiệm âm tính cũng tham gia vào nghiên cứu, cho phép các nhà nghiên cứu nhận ra liệu mất mùi có phải đặc trưng đối với bệnh nhân COVID-19 hay không.

Trong số các bệnh nhân dương tính với COVID-19 trong nghiên cứu, khoảng 68% cho biết họ bị mất mùi và 71% báo cáo mất vị giác, so với chỉ 16% và 17% bệnh nhân âm tính, tương ứng. Trong số các bệnh nhân COVID-19 bị mất mùi hoặc vị giác, sự giảm cảm giác thường là “sâu sắc, không nhẹ”, theo tuyên bố của Đại học California, San Diego. Tuy nhiên, phần lớn bệnh nhân đã phục hồi khứu giác và vị giác trong khoảng 2 đến 4 tuần, là khoảng thời gian họ hồi phục sau khi bị nhiễm trùng.

“Trong số các bệnh nhân COVID-19 bị mất mùi, hơn 70% đã báo cáo sự cải thiện về cảm nhận mùi tại thời điểm khảo sát và trong số những người không báo cáo sự cải thiện, nhiều người chỉ được chẩn đoán gần đây”, Yan nói.

Không có người tham gia nghiên cứu phải yêu cầu nhập viện hoặc hỗ trợ thở xâm lấn, chẳng hạn như đặt nội khí quản. Nếu các biện pháp cách ly xã hội không được áp dụng, những cá nhân như vậy có khả năng lây nhiễm sang những người khác trong cộng đồng của họ, mặc dù không gặp phải các triệu chứng dữ dội. Mất mùi vị nên được ghi nhận là dấu hiệu tiềm năng của COVID-19 ở những người cảm thấy khỏe mạnh, bởi vì những người có triệu chứng nhẹ góp phần lớn vào sự lây lan của virus, Yan nói.

“Chúng tôi hy vọng rằng với những phát hiện này, các tổ chức khác sẽ làm theo và không chỉ liệt kê mất mùi vị như là một triệu chứng của COVID-19, mà còn sử dụng nó như một biện pháp sàng lọc virus trên toàn thế giới”, cô nói.

Cuối cùng, bài báo nghiên cứu gốc kết luận ở những người cấp cứu có triệu chứng giống cúm, rối loạn chức năng hóa trị có liên quan chặt chẽ với nhiễm Covid ‐ 19 và nên được xem xét khi sàng lọc các triệu chứng. Hầu hết sẽ phục hồi chức năng hóa trị trong vòng vài tuần song song với việc khắc phục các triệu chứng liên quan đến bệnh khác.

Viet’s Post (Theo LiveScience)

Bài nghiên cứu gốc: https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.1002/alr.22579

Nhà virus học nổi tiếng của Séc: COVID-19 có thể bắt nguồn từ phòng thí nghiệm

Theo Trithucvn dẫn nguồn tin từ Petr Svab/The Epoch Times, một nhà virus học người Séc phát triển thành công một phương pháp đơn giản để phát hiện những ca lây nhiễm virus SARS-CoV-2, đã lên tiếng ủng hộ luận điểm cho rằng virus này có thể bắt nguồn từ một phòng thí nghiệm. Trong khi đó một số nghiên cứu trước đây ủng hộ theo hướng ngược lại. Viet’s Post đưa tin lại như một giả thuyết khoa học và không thể hiện các quan điểm chính trị có liên quan nếu có.

Công bố mới trên Tạp chí Nature cho thấy tê tê có thể đã truyền virus corona mới từ dơi sang người

SARS-CoV-2 không phải là từ phòng thí nghiệm hoặc bị thao túng có chủ đích

SARS-CoV-2 gây ra COVID-19 có thể được tái tổ hợp từ 2 vi rút khác nhau

Dơi, rắn hay tê tê đã truyền virus corona mới cho người?

Nhà virus học nổi tiếng của Séc: COVID-19 có thể bắt nguồn từ phòng thí nghiệm
Nhà virus học Sona Pekova (Ảnh chụp/Youtube)

Tiến sỹ Sona Pekova, một nhà virus học đang làm việc ở  phòng thí nghiệm Tilia Laboratories tại Cộng hòa Séc, đã thu hút được sự chú ý của giới truyền thông sau khi phát hiện ra một số ca nhiễm virus SARS-CoV-2, hay virus corona chủng mới, tại quốc gia Trung Âu nhỏ bé này.

Mặc dù loại trừ khả năng virus SARS-CoV-2 là một loại vũ khí sinh học, nhưng Pekova ủng hộ lập luận cho rằng nó có thể có nguồn gốc từ một phòng thí nghiệm.

Virus SARS-CoV-2 bùng phát ở thành phố Vũ Hán, miền trung Trung Quốc, vào khoảng tháng 11 năm 2019 trước khi lan ra khắp Trung Quốc và thế giới.

Tính đến ngày 10/4 năm nay, đã có hơn 1,8 triệu ca nhiễm virus và hại chết hơn 112.000 người trên toàn thế giới. Cộng hòa Séc, một nước chỉ với hơn 10 triệu dân, đã có gần 6.000 ca nhiễm với gần 140 người chết.

Phòng thí nghiệm của Pekova đã phát triển được một biện pháp mới để xét nghiệm virus.

Pekova cùng các cộng sự của mình cố gắng đơn giản hóa phương pháp xét nghiệm để nó cho kết quả nhanh và rẻ hơn. Họ tìm kiếm đoạn gen đặc trưng của virus và điều chỉnh phương pháp xét nghiệm để tập trung phát hiện ra đặc trưng đó.

Pekova thực sự đã tìm được đoạn gen ấy. Việc này không chỉ giúp bà phát triển được phương pháp xét nghiệm mới, mà còn củng cố giả thuyết cho rằng con virus được tạo ra trong phòng thí nghiệm.

Tôi đã tập trung vào các khu vực chỉ huy của virus (5’ UTR) – 265 base (bazơ) đầu tiên của gen (trước cả những gen kết cấu) và phát hiện ra những trình tự gen đặc biệt tới nỗi tôi không thể hình dùng ra được bất cứ nét tự nhiên nào trong nguồn gốc của nó,” bà trả lời tòa soạn The Epoch Times tại Cộng hòa Séc.

5’ UTR, hay còn gọi là “Vùng không dịch mã” là trung tâm chỉ huy của con virus.

Trung tâm chỉ huy của con virus chịu trách nhiệm cho toàn bộ các chức năng sống của nó (như tự nhân đôi, sao mã…)” bà nói.

Mặc dù các chủng virus corona dễ bị đột biến, nhưng “khu điều khiển trung tâm” của mỗi chủng đều giống nhau và nếu nó đột biến thì phải là để thu được lợi ích nào đó, Pekova nói tại một cuộc phỏng vấn với công ty truyền thông Leontynka của Séc.

Tuy vậy, khi bà quan sát khu 5’ UTR của virus SARS-CoV-2, bà phát hiện ra nhiều đột biến.

Với con virus này, tại khu điều khiển trung tâm của nó, xem ra đã có ai đó tới đây, mở tủ, ném mọi thứ ra ngoài, lật đổ ghế.”

Và nếu đó là một biến thể tự nhiên, thì rất khó để con người có thể tưởng tượng ra được nhiều sự đột biến như vậy – như chèn, xóa, các đột biến nucleotide đơn – có thể diễn ra một cách ngẫu nhiên và rằng con virus này không chết giữa đường khi các quá trình này xảy ra.”

Điều này “ít nhất là không điển hình”, bà nói.

Pekova có một sự nghiệp huy hoàng, bà đã công bố hàng chục bài báo trong lĩnh vực vi sinh phân tử và di truyền. Với bà những việc như “nhân bản gen đột biến” đã trở thành chuyện “cơm bữa”.

Chính nền tảng kiến thức sâu rộng này đã giúp bà nhận ra được những yếu tốt bất thường tại khu 5’ UTR của virus SARS-CoV-2.

COVID-19: từ phòng thí nghiệm hay tự nhiên?

Những giả thuyết về nguồn gốc phòng thí nghiệm của virus SARS-CoV-2 đã gây ra nhiều đồn đoán trong công chúng vì Vũ Hán là nơi duy nhất tại Trung Quốc được cấp giấy phép đặt một phòng thí nghiệm sinh học P4 có thể nghiên cứu các mầm bệnh nguy hiểm nhất như Ebola và SARS.

Trung Quốc ban đầu giải thích rằng virus bắt nguồn từ một khu chợ bán hải sản ở Vũ Hán. Tuy nhiên lập luận này đã suy yếu khi nhiều nghiên cứu cho thấy không ít các bệnh nhân đầu tiên không hề tiếp xúc với khu chợ.

Mặc dù một số nhà virus học trước đây đã chỉ ra những đặc trưng bất thường trong gen của virus SARS-CoV-2, làm dấy lên những nghi vấn về nguồn gốc phòng thí nghiệm, nhưng các chuyên gia dường như đều nhất trí rằng cần có thêm thông tin để đánh giá chính xác xem con virus bắt nguồn từ đâu.

Việc so sánh các bộ gen đã cho thấy giữa các chủng virus corona mà con người đã biết, virus SARS-CoV-2 gần giống nhất với một số chủng virus có trong dơi và tê tê. Tuy vậy, vẫn có những sự khác biệt khiến người ta nghĩ rằng có một mắt xích nào đó đã biến mất.

Nếu con virus đến từ động vật thì hẳn virus phải lây từ dơi hoặc tê tê sang một động vật khác trước khi lây cho con người. Trong trường hợp này, các loài động vật bị nhiễm từ dơi và tê tê ấy vẫn có thể là nguồn lây lan virus. Tuy vậy, giới chức Trung Quốc không hề cho thấy quyết tâm xét nghiệm các loài động vật hoang dã tại Vũ Hán, và nếu họ có đang tiến hành các xét nghiệm này, thì vẫn chưa có kết quả nào được công bố.

Trên thực tế, thiếu minh bạch là chính là một trong những việc Trung Quốc bị chỉ trích nhiều nhất trong quá trình đối phó với virus SARS-CoV-2.

Pekova nói rằng “Vậy nên trong ngành di truyền học, trong sinh học phân tử, trong việc nhân bản, ngày nay chúng ta đã có những công cụ có thể thay đổi bộ gen từ cơ sở của nó và điều này chỉ phụ thuộc duy nhất vào lương tâm của nhà khoa học, và tôi không rõ là điều đó có đủ hay không.”

Viet’s Post (Theo Petr Svab/The Epoch Times Trithucvn: Read More)

Công bố mới trên Tạp chí Nature cho thấy tê tê có thể đã truyền virus corona mới từ dơi sang người

Công bố mới trên Tạp chí Nature cho thấy các virus corona từ tê tê thuộc về hai dòng phụ của các virus corona liên quan đến SARS-CoV-2, trong đó một dòng có độ tương đồng cao với SARS-CoV-2 trong vùng liên kết với thụ thể. Vì thế, các tác giả cho rằng tê tê có thể đã truyền virus corona mới từ dơi sang người.

Về nguồn gốc của SARS-CoV-2 gây ra đại dịch COVID-19 vẫn còn nhiều tranh cãi và các nhà khoa học vẫn đang trên đường tìm kiếm các bằng chứng xác thực hơn. Đến nay đã có một số công bố quan trọng như:

SARS-CoV-2 không phải là từ phòng thí nghiệm hoặc bị thao túng có chủ đích

SARS-CoV-2 gây ra COVID-19 có thể được tái tổ hợp từ 2 vi rút khác nhau

Dơi, rắn hay tê tê đã truyền virus corona mới cho người?

Một nghiên cứu gần đây cũng đã phát hiện ra rằng trình tự di truyền của một coronavirus, được phát hiện trong các mẫu phổi của tê tê Malaya (Manis javanica), rất giống với SARS-CoV-2. Hai virus chia sẻ 91% trình tự di truyền của chúng [1].

Có một sự tương đồng đặc biệt mạnh mẽ giữa các protein gai vỏ (spike protein) của hai loại virus này. Protein gai vỏ có trên bề mặt của coronavirus, được virus sử dụng để xâm nhập vào tế bào động vật. Virus corona từ dơi, là tổ tiên của SARS-CoV-2, có 19 axit amin trên protein gai vỏ khác với SARS-CoV-2; trong khi đó virus corona từ tê tê chỉ có 5 axit amin khác với SARS-CoV-2. Trong khi đó, một số nhóm nghiên cứu khác đã tìm thấy bằng chứng thực nghiệm về việc tê tê bị nhiễm virus corona rất giống với SARS-CoV-2 [2][3].

Cụ thể, nghiên cứu đã báo cáo việc xác định các virus corona liên quan đến SARS-CoV-2 được tìm thấy ở tê tê Malaya (Manis javanica) bị bắt trong các hoạt động chống buôn lậu ở miền nam Trung Quốc. Giải trình tự đa hệ gen của chúng đã xác định các virus corona từ tê tê thuộc về hai dòng phụ của các virus corona liên quan đến SARS-CoV-2, trong đó một dòng có độ tương đồng cao với SARS-CoV-2 trong vùng liên kết với thụ thể. Việc phát hiện ra các dòng của virus corona ở tê tê và sự tương đồng của chúng với SARS-CoV-2 cho thấy rằng tê tê nên được coi là vật chủ trung gian tiềm năng trong sự xuất hiện của virus corona mới và nên được loại bỏ khỏi thị trường tiêu thụ để ngăn ngừa lây truyền bệnh từ động vật sang người [3].

Mối quan hệ tiến hóa của các virus corona từ tê tê và SARS-CoV-2

Nghiên cứu cũng cho rằng mặc dù tê tê hiện là nghi phạm hàng đầu như vật chủ trung gian truyền virus từ dơi sang người, tuy nhiên vẫn cần xem xét các vật chủ trung gian tiềm năng khác. Một virus corona có thể sử dụng nhiều hơn một loài động vật để lây nhiễm cho người. Ví dụ, trong khi cầy hương được biết đến nhiều nhất khi truyền SARS, các động vật khác như chó gấu trúc và lửng ferret cũng có thể mang SARS.

Tương tự, mèo và chồn cũng có thể bị nhiễm SARS-CoV-2 gây ra COVID-19. Vẫn chưa biết trên thực tế liệu con người có thể bị nhiễm virus corona cư trú trong những động vật này hay không.

Hơn nữa, dù kết quả này được công bố trên Tạp chí Nature danh giá nhưng ngay sau khi công bố, một số bình luận dưới bài báo đã bày tỏ sự ngờ vực về mức độ thấp của những thông tin có chất lượng được dẫn chứng trong nghiên cứu này.

Viet’s Post

[1] https://www.mdpi.com/1999-4915/11/11/979
[2] https://www.biorxiv.org/content/10.1101/2020.02.13.945485v1.full.pdf
[3] https://www.nature.com/articles/s41586-020-2169-0_reference.pdf

Chính phủ Trung Quốc ban hành dự thảo mới về các động vật nuôi lấy thịt sau đại dịch COVID-19

Theo CNN đưa tin, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành một danh sách dự thảo mới về động vật nuôi lấy thịt sau khi xảy ra dịch COVID-19, được nghi là có nguồn gốc từ động vật hoang dã ở chợ Vũ Hán. Không có đề cập đến các loài động vật được các nhà khoa học nghi ngờ đã truyền vi rút sang người, như tê tê, dơi và cầy hương nhưng chó và mèo đã được dự thảo đưa ra khỏi thực đơn ở Trung Quốc.

Bắc Kinh tạm thời cấm mọi hoạt động buôn bán động vật hoang dã làm thực phẩm sau khi dịch bệnh bùng phát, hiện đã lan rộng ra toàn cầu và lây nhiễm hơn 1,6 triệu người, nhưng luật mới vẫn chưa được hoàn thiện.

Bộ Nông nghiệp Trung Quốc đã ban hành một danh sách dự thảo các động vật được coi là phù hợp để sử dụng làm vật nuôi, bao gồm các mặt hàng chủ lực như lợn, bò, gà và cừu, cũng như “vật nuôi đặc biệt” như một số loài hươu, lạc đà và đà điểu.

Hai loài cáo gồm gấu trúc và chồn có thể được nuôi làm gia súc nhưng không phải để lấy thịt.

Không có đề cập đến các loài động vật được các nhà khoa học nghi ngờ đã truyền virut sang người, như tê tê, dơi và cầy hương.

Chó cũng vắng mặt trong danh sách vật nuôi. Nếu chính thức thi hành, sẽ dẫn đến lệnh cấm đầu tiên trên toàn quốc của Trung Quốc đối với việc tiêu thụ chó. Đây có thể coi là một chiến thắng cho các nhà hoạt động vì quyền động vật.

“Với sự tiến bộ của nền văn minh nhân loại và sự quan tâm và ưu tiên của công chúng đối với việc bảo vệ động vật, chó đã phát triển từ vật nuôi truyền thống sang động vật đồng hành”, một lời giải thích kèm theo của dự thảo. “Chúng thường không còn được coi là vật nuôi ở phần còn lại của thế giới. Không nên liệt kê chúng theo gia súc hoặc gia cầm ở Trung Quốc.”

Dự thảo vẫn chưa được hoàn thiện và công chúng có thể phản hồi đến ngày 8 tháng 5.

Trong một tuyên bố hôm thứ Năm, Tổ chức Nhân đạo Quốc tế nói rằng đề xuất dự thảo có thể là một “thay đổi cuộc chơi” để bảo vệ động vật ở Trung Quốc.

Người dân còn phải chờ kết quả của giai đoạn tham vấn nhưng dự thảo này có thể mở đường một cách hiệu quả để Trung Quốc chính thức đưa chó và mèo ra khỏi thực đơn.

Viet’s Post (theo CNN)

3 biến thể và các tuyến lây nhiễm được xác định thông qua phân tích 160 bộ gen SARS-CoV-2 gây ra COVID-19 trên khắp toàn cầu

Trong một công bố mới nhất trên Tạp chí danh tiếng PNAS khi phân tích 160 bộ gen của virus SARS-CoV-2 ở các bệnh nhân COVID-19 từ khắp nơi trên thế giới, các nhà khoa học đã phát hiện ba biến thể khác nhau của virus (loại A, B và C) và các tuyến lây nhiễm của các biến thể này. Các loại A và C được tìm thấy có tỷ lệ cao tương ứng ở Mỹ và Châu Âu. Ngược lại, loại B xuất hiện phổ biến nhất ở Đông Á và bộ gen tổ tiên của nó dường như không lan ra ngoài Đông Á nếu không bị đột biến thành các nhóm khác có nguồn gốc từ loại B. Điều này thể hiện hiệu ứng kẻ sáng lập hoặc hiện tượng kháng miễn dịch hay kháng môi trường nhằm chống lại loại này ở bên ngoài châu Á.

Tiến sĩ Forster, một nhà di truyền học tại Đại học Cambridge, và các đồng nghiệp đã sử dụng dữ liệu từ bộ gen virus SARS-CoV-2 được lấy mẫu từ khắp nơi trên thế giới trong khoảng thời gian từ ngày 24 tháng 12 năm 2019 đến ngày 4 tháng 3 năm 2020. Các tác giả của nghiên cứu này cho biết có rất nhiều đột biến xảy ra nhanh chóng, gọn gàng trong cây phát sinh chủng loại của các hệ gen SARS-CoV-2. Nhóm tác giả đã sử dụng thuật toán mạng di truyền để xây dựng cây phát sinh chủng loại. Các kỹ thuật này hầu hết được biết đến để lập bản đồ các biến đổi di truyền của quần thể người tiền sử thông qua trình tự DNA. Đây là lần đầu tiên chúng được sử dụng để theo dõi các con đường lây nhiễm của một loại vi rút corona như SARS-CoV-2.

Kết quả nghiên cứu đã phát hiện có ba biến thể khác nhau của virus, mỗi loại bao gồm các nhóm chủng có liên quan chặt chẽ với nhau. Biến thể loại A có quan hệ gần nhất với chủng vi rút được phát hiện ở loài dơi, là nhóm chủng có mặt ở Vũ Hán từ ban đầu, nhưng đáng ngạc nhiên là loại A không phải là loại virus chiếm ưu thế của thành phố này.

Mạng lưới phát sinh chủng loại của 160 bộ gen SARS-CoV-2. A là nhóm virus gốc BatCoVRaTG13 từ loài dơi ( Rhinolophus affinis) ở tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Diện tích vòng tròn tỷ lệ thuận với số lượng loài và mỗi nốt trên các liên kết đại diện cho một vị trí nucleotide đột biến. Ảnh: Forster et al, doi: 10.1073 / pnas.2004999117.

Các phiên bản đột biến của loại A đã được tìm thấy ở những người Mỹ từng sống ở Vũ Hán và một tỷ lệ lớn virus loại A được tìm thấy ở các bệnh nhân đến từ Mỹ và Úc.

Loại B là nhóm virus chính của Vũ Hán, có mặt phổ biến ở những bệnh nhân từ khắp các nước Đông Á. Tuy nhiên, biến thể loại này đã không đi xa hơn bên ngoài khu vực nếu không bị đột biến thành loại khác. Điều này ngụ ý nguồn phát sinh virus là từ Vũ Hán hoặc có sự đề kháng bởi hệ miễn dịch hoặc môi trường chống lại loại này ở bên ngoài Đông Á.

Biến thể loại C là loại chính của châu Âu, được tìm thấy ở những bệnh nhân sớm từ Pháp, Ý, Thụy Điển và Anh. Nó không có trong mẫu nghiên cứu ở Trung Quốc đại lục, nhưng được thấy ở Singapore, Hồng Kông và Hàn Quốc.

Phân tích mới cũng cho thấy rằng một trong những lần lây nhiễm virus sớm nhất vào Ý là thông qua ca nhiễm đầu tiên được ghi nhận ở Đức vào ngày 27 tháng 1, và một con đường lây nhiễm sớm khác của Ý có liên quan đến các chủng virus từ Singapore.

Điều quan trọng là các kỹ thuật phân tích mạng di truyền của nhóm tác giả đã vạch ra chính xác các tuyến lây nhiễm được thiết lập trước đây. Thực tế là các đột biến và dòng virus đã kết nối thành công các dấu chấm của các trường hợp đã biết.

Do đó, các nhà khoa học cho rằng các phương pháp phân tích phát sinh chủng loại này có thể được áp dụng cho phân tích trình tự bộ gen của các virus corona mới nhất để giúp dự đoán các điểm nóng trong tương lai về con đường truyền bệnh và phát sinh đột biến.

Phân tích mạng di truyền có khả năng giúp xác định các nguồn lây nhiễm COVID-19 chưa được chứng thực, sau đó có thể được kiểm dịch để ngăn chặn sự lây lan của căn bệnh này trên toàn thế giới.

Các biến thể A, liên quan chặt chẽ nhất với virus được tìm thấy ở cả dơi và tê tê, hiện vẫn đang được các nhà khoa học mô tả là gốc rễ của sự bùng phát đại dịch.

Loại B có nguồn gốc từ A, cách nhau bởi hai đột biến, sau đó đến lượt loại C được phát sinh từ loại B.

Các tuyến lây nhiễm của 3 biến chủng A, B và C trên khắp thế giới. Video+Ảnh: dailymail.co.uk.

Các tác giả cho biết, sở dĩ biến thể B chỉ có mặt ở Đông Á có thể là kết quả của hiệu ứng kẻ sáng lập: hiện tượng “thắt cổ chai” di truyền đã xảy ra khi trong trường hợp các chủng virus này mới được tạo thành từ một nhóm nhỏ nhưng bị cách ly trong thành phố.

Tiến sĩ Forster còn cho biết có thể có một lời giải thích khác đáng để xem xét, đó là virus loại B Vũ Hán có thể thích nghi về mặt miễn dịch hoặc môi trường với một bộ phận lớn dân số Đông Á. Có thể chúng cần phải đột biến để vượt qua sự kháng cự bên ngoài Đông Á. Chúng ta dường như thấy tốc độ đột biến ở Đông Á chậm hơn các nơi khác, trong giai đoạn ban đầu này.

Viet’s Post

Tài liệu gốc: Peter Forster et al. Phylogenetic network analysis of SARS-CoV-2 genomes. PNAS, published online April 8, 2020; doi: 10.1073/pnas.2004999117

Tác hại tiềm tàng của chloroquine, hydroxychloroquine và azithromycin trong điều trị COVID-19

Chloroquine, hydroxychloroquine và azithromycin đang được sử dụng để điều trị và phòng ngừa COVID-19 mặc dù bằng chứng về tính hiệu quả của chúng còn thấp. Vì vậy, một báo cáo tổng quan mới nhất được công bố trên Tạp chí Hiệp hội Y khoa Canada (Canadian Medical Association Journal) cho rằng các bác sĩ và bệnh nhân nên biết về các tác dụng phụ nghiêm trọng tiềm tàng của các thuốc này.

Báo cáo tổng quan cho thấy các bác sĩ và bệnh nhân nên biết về một số tác dụng phụ hiếm gặp nhưng có khả năng đe dọa đến tính mạng của chloroquine và hydroxychloroquine, đồng thời có thể áp dụng để quản lý sử dụng thuốc dựa trên các bằng chứng tốt nhất hiện có.

Các tác dụng phụ tiềm ẩn được chỉ ra bao gồm:

  • Rối loạn nhịp tim
  • Hạ đường huyết
  • Tác dụng thần kinh, như kích động, nhầm lẫn, ảo giác và hoang tưởng
  • Tương tác với các thuốc khác
  • Khác biệt về trao đổi chất (một số người chuyển hóa chloroquine và hydroxychloroquine kém và một tỷ lệ nhỏ chuyển hóa chúng nhanh chóng, vì thế ảnh hưởng đến đáp ứng điều trị)
  • Sử dụng quá liều (chloroquine và hydroxychloroquine rất độc khi dùng quá liều và có thể gây co giật, hôn mê và ngừng tim)
  • Thiếu thuốc (bệnh nhân bị rối loạn tự miễn dịch như viêm khớp dạng thấp, ban đỏ lupus và các bệnh mãn tính khác, những người dùng hydroxychloroquine để điều trị các tình trạng này có thể gặp vấn đề khi tiếp cận thuốc này)

Báo cáo tổng quan cũng cho thấy các bằng chứng hiện nay là chưa đủ mạnh về lợi ích điều trị của các thuốc này ở những bệnh nhân mắc COVID-19 và cảnh báo rằng có thể các phương pháp điều trị thậm chí có thể làm bệnh nặng hơn.

Mặc dù có người đang lạc quan về tiềm năng của chloroquine hoặc hydroxychloroquine trong điều trị COVID-19, nhưng cần thận trọng hơn về khả năng thuốc có thể ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển bệnh. Vì vậy, các nhà khoa học cho rằng cần có các bằng chứng tốt hơn trước khi thường xuyên sử dụng các loại thuốc này để điều trị cho bệnh nhân mắc COVID-19.

Viet’s Post

Tài liệu gốc: David N. Juurlink. Safety considerations with chloroquine, hydroxychloroquine and azithromycin in the management of SARS-CoV-2 infection. CMAJ, 2020; DOI: 10.1503/cmaj.200528

%d bloggers like this: