Bài học về giãn cách xã hội trong thế giới tự nhiên của các loài động vật

Việt Nam đang thực thi giãn cách xã hội (social distancing) trong 2 tuần. Nhiều nước trên thế giới cũng đã và đang thực hiện. Giãn cách xã hội để chống lại COVID-19 đang tác động sâu sắc đến xã hội, khiến nhiều người tự hỏi liệu nó có thực sự hoạt động hiệu quả hay không. Theo các nhà sinh thái học về bệnh, ngay trong thế giới tự nhiên đã có câu trả lời. Nhiều loài động vật như khỉ, tôm hùm, côn trùng và chim có thể phát hiện và tránh các thành viên bị bệnh trong loài của chúng. Tại sao có nhiều loại động vật phát triển các hành vi tinh tế như vậy để đáp ứng với bệnh tật? Bởi vì giãn cách xã hội giúp chúng sống sót.

Về mặt tiến hóa, động vật đã thực hiện giãn cách xã hội hiệu quả trong thời kỳ dịch bệnh nhằm cải thiện cơ hội sống khỏe mạnh và tiếp tục sinh ra nhiều con cái, điều này cũng sẽ tạo giãn cách xã hội khi đối mặt với bệnh tật.

Các nhà khoa học đã nghiên cứu các cách thức đa dạng trong đó động vật sử dụng các hành vi để tránh nhiễm bệnh và tại sao các hành vi này đóng vai trò quan trọng đối với việc lây bệnh. Trong khi động vật đã phát triển một loạt các hành vi hạn chế nhiễm bệnh, thì sự phổ biến của giãn cách xã hội ở động vật sống theo bầy đàn cho chúng ta biết rằng chiến lược này là phổ biến ở những động vật phải đối mặt với nguy cơ cao mắc bệnh truyền nhiễm.

Chúng ta có thể học được gì về sự giãn cách xã hội từ các loài động vật khác, hành động của chúng diễn ra như thế nào, và những gì không giống như cái con người đang làm bây giờ?

Nuôi dưỡng con bị bệnh, và bảo vệ con chúa

Những loài côn trùng có đời sống xã hội là một trong những kẻ thực hành thành thạo nhất về giãn cách xã hội trong tự nhiên. Nhiều loại kiến sống trong các tổ chật hẹp với hàng trăm hoặc thậm chí hàng ngàn con. Giống như các trung tâm chăm sóc y tế, ký túc xá đại học và viện dưỡng lão, những nơi sống này có thể tạo điều kiện tối ưu để truyền bệnh truyền nhiễm.

Để đối phó với nguy cơ này, kiến đã phát triển khả năng giãn cách xã hội. Khi một căn bệnh truyền nhiễm quét qua xã hội của chúng, cả những con kiến ốm yếu và khỏe mạnh sẽ nhanh chóng thay đổi hành vi của chúng theo những cách làm chậm quá trình truyền bệnh. Các con kiến ốm tự cách ly và các con kiến khỏe mạnh giảm tương tác với các con kiến khác khi có dịch bệnh ở trong tổ của chúng.

Những con kiến khỏe mạnh thậm chí còn được “xếp gần” với các thành viên dễ bị tổn thương nhất trong tổ là kiến chúa và “kiến y tá” bằng cách giữ chúng cách ly với những con kiến thợ có khả năng lây bệnh từ bên ngoài. Nhìn chung, các biện pháp này có hiệu quả cao trong việc hạn chế lây lan bệnh và giữ cho các thành viên trong tổ sống sót.

Nhiều loài động vật khác cũng biết chọn chính xác những cá thể nào cần giữ giãn cách xã hội, và ngược lại, khi nào tự đặt mình vào rủi ro mắc bệnh. Ví dụ, loài khỉ mặt chó (mandrill) tiếp tục chăm sóc cho các thành viên gia đình bị bệnh ngay cả khi chúng chủ động tránh các thành viên ngoài gia đình bị bệnh. Theo quan điểm tiến hóa, việc chăm sóc một thành viên trong gia đình bị bệnh có thể cho phép một con vật di truyền gen cho con đẻ trong gia đình.

Hơn nữa, một số động vật duy trì các tương tác xã hội thiết yếu khi đối mặt với bệnh tật trong khi đưa ra những điều ít quan trọng hơn. Ví dụ, dơi ma cà rồng tiếp tục cung cấp thức ăn cho các con cùng đàn bị bệnh, nhưng tránh chải chuốt chúng. Điều này giảm thiểu rủi ro truyền nhiễm trong khi vẫn duy trì các hình thức hỗ trợ xã hội là điều cần thiết nhất để giữ cho các thành viên gia đình bị bệnh còn sống, chẳng hạn như chia sẻ thức ăn.

Những hình thức sắc thái giãn cách xã hội này giảm thiểu tác động của bệnh tật trong khi vẫn duy trì những lợi ích của đời sống xã hội. Không có gì ngạc nhiên khi quá trình tiến hóa đã chọn lọc hình thức này ở nhiều loài động vật.

Lòng vị tha làm chúng ta là con người

Hành vi của con người trong thời kỳ dịch bệnh cũng mang dấu hiệu của sự tiến hóa. Điều này chỉ ra rằng tổ tiên vượn người của chúng ta phải đối mặt với nhiều áp lực tương tự từ các bệnh truyền nhiễm mà chúng ta đang phải đối mặt ngày nay.

Giống như kiến có đời sống xã hội, chúng ta đang bảo vệ những thành viên dễ bị tổn thương nhất trong xã hội khỏi bị nhiễm COVID-19 bằng cách đảm bảo rằng những người già và những người mắc bệnh trước đó tránh xa những người có khả năng truyền nhiễm. Giống như khỉ và dơi, chúng ta cũng thực hành giãn cách xã hội, giảm bớt các liên hệ xã hội không thiết yếu trong khi vẫn cung cấp chăm sóc thiết yếu cho các thành viên gia đình bị bệnh.

Tuy nhiên, cũng có những khác biệt quan trọng. Ví dụ, ngoài việc chăm sóc các thành viên gia đình bị bệnh, con người đôi khi còn làm tăng rủi ro của chính họ bằng cách chăm sóc những người ngoài gia đình, chẳng hạn như bạn bè và hàng xóm. Xa hơn nữa, các nhân viên y tế còn tích cực tìm kiếm và giúp đỡ chính những người mà đúng ra theo quy luật trong tự nhiên họ cần phải tránh.

Lòng vị tha là hành vi duy nhất phân biệt phản ứng với dịch bệnh giữa con người và các động vật khác. Các động vật khác phải dựa vào tín hiệu tinh tế để phát hiện bệnh giữa các thành viên trong đàn, nhưng chúng ta có các công nghệ tiên tiến giúp phát hiện mầm bệnh nhanh chóng và sau đó cách ly và điều trị cho những người bị bệnh. Và con người có thể truyền đạt các mối đe dọa sức khỏe trên toàn cầu ngay lập tức, điều này cho phép chúng ta chủ động tạo ra các hành động làm giảm nhẹ bệnh tật. Đó là một lợi thế tiến hóa rất lớn.

Cuối cùng, nhờ các nền tảng số, con người có thể duy trì các kết nối xã hội mà không cần tiếp xúc trực tiếp. Điều này có nghĩa là không giống như các động vật khác, chúng ta có thể luyện tập thể chất thay vì giãn cách xã hội, điều này cho phép chúng ta duy trì một số lợi ích quan trọng của việc sống theo nhóm trong khi giảm thiểu rủi ro bệnh tật.

Đáng để thực hiện giãn cách xã hội

Bằng chứng từ thiên nhiên rất rõ ràng: Giãn cách xã hội là một công cụ hiệu quả để giảm lây lan bệnh. Nó cũng là một công cụ có thể được thực hiện nhanh chóng và phổ biến hơn hầu hết các công cụ khác. Không giống như tiêm chủng và dùng thuốc, thay đổi hành vi không yêu cầu phải phát triển thêm hoặc thử nghiệm.

Tuy nhiên, giãn cách xã hội cũng có thể phải chịu tổn thất lớn và đôi khi không bền vững. Một số động vật có tính xã hội cao, như cầy mangut vằn, không cách ly các thành viên trong đàn ngay cả khi chúng bị bệnh rõ ràng. Trong trường hợp này có thể đơn giản hiểu rằng những thiệt hại do giãn cách xã hội tạo ra với các thành viên trong gia đình và bầy đàn là quá lớn với chúng. Như chúng ta hiện đang trải qua, giãn cách xã hội cũng gây ra nhiều tổn thất nghiêm trọng trong xã hội loài người, và những thiệt hại này thường do những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội phải gánh chịu.

Mặc dù giãn cách xã hội có thể gây ra thiệt hại, tại sao nhiều động vật vẫn làm điều đó? Đó là vì những hành động bảo vệ chúng khỏi bệnh tật cuối cùng cho phép chúng tận hưởng cuộc sống xã hội – một lối sống mang lại vô số lợi ích, nhưng cũng mang đến một vài rủi ro. Bằng cách thực hiện giãn cách xã hội khi cần thiết, con người và các động vật khác có thể tiếp tục gặt hái những lợi ích đa dạng của đời sống xã hội trong thời gian dài, đồng thời giảm thiểu thiệt hại do các bệnh có thể gây tử vong khi chúng phát sinh.

Giãn cách xã hội có thể làm ảnh hưởng sâu sắc cho xã hội của chúng ta, nhưng nó cũng có thể ngăn chặn sự bùng phát dịch bệnh. Chỉ cần hỏi đàn kiến thì sẽ biết thôi.

Viet’s Post (Theo The Conservation)

Tags: , , , , , , , , ,

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this: